- Đánh giá về nghiên cứu khoa học tại Việt Nam hiện nay?
- Việc nghiên cứu khoa học trong trường ĐH, một mảng rất quan
trọng trong nghiên cứu khoa học đang không có nhiều hiệu quả. Trong khi các
viện nghiên cứu lại làm nhiều việc khác, không lo nghiên cứu. Xin thầy cho ý
kiến về việc này?
- Thầy cho em xin lý do khiến NCKH không hiệu quả? Lối ra của
việc này nằm ở đâu?
Em cám ơn thầy nhiều. Em chờ mail thầy ạ.
Trả lời:
(Thầy sẽ viết bài này theo mạch suy nghĩ của Thầy. Nhờ em giúp biên tập lại thành bài phỏng vấn, theo cung cách của em. Đồng thời Thầy gởi cho em bài” Chương trình hành động” khi Thầy tự ứng cử vào QH, để em tham khảo.)
Có lẽ chúng ta đang băn khoăn vì sự yếu kém của nền khoa học Việt Nam. Để mổ xẻ vấn đề, theo tôi trước hết chúng ta phải bàn xem, hoạt động khoa học là những hoạt động chủ yếu nào? Sau đó sẽ tìm nguyên nhân ở mỗi một hoạt động.
1. Hoat động khoa học là những hoạt động chủ yếu nào?
Cá nhân tôi có suy nghĩ rằng hoạt động khoa học nói chung, hoạt động của giới khoa học giới trí thức nói riêng chủ yếu là:
-
Hoạt
động tư vấn,
-
Nghiên
cứu khoa học và chuyển giao kết quả nghiên cứu
-
Đào
tạo nguồn nhân lực trình độ cao
- Dịch vụ khoa học công nghệ.
Xin thành thật nói rằng quan niệm này của tôi là không phù hợp với luật khoa học và công nghệ của VN. Xin trích dẫn 2 mục trong điều 2 của luật khoa học và công nghệ:
Mục 3. Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ;
Mục 8. Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn.
Như vậy luật của chúng ta xem hoạt động tư vấn và hoạt động đào tạo chỉ là một loại dịch vụ không hơn không kém.
Hoạt động tư vấn là vô cùng quan trọng, nhưng chúng ta không có luật tư vấn để
chế tài hoạt động này nhằm mang lại hiệu quả lớn nhất cho đất nước.
Ngược lại chúng ta chấp nhận hoạt động mang
tên phản biện xã hội, cũng không có
luật pháp chế tài, mà chỉ là một hoạt động hết sức tùy tiện, phiến diện, phi
khoa học, của cá nhân các Nhà Khoa học hoặc một nhóm các Nhà Khoa học. Họ là những
Nhà Khoa học, có học hàm và học vị cao nhưng “phản biện xã hội” của họ lại hướng
vào những lĩnh vực không thuộc chuyên môn sâu của họ, dẫn đến kết quả: đa phần “phản
biện xã hội” của họ là sai.
Nên sớm có luật tư vấn.
Luật Tư vấn phải quy định rõ:
-
Những điều kiện bắt buộc để các tổ chức hoặc cá nhân có thể xin
phép làm công tác tư vấn, trong đó có phạm vi tư vấn. Sẽ không còn tình trạng
phản biện xã hội lung tung tùy tiện.
-
Những công việc buộc phải thông qua tư vấn trước khi quyết định
thực thi, là công việc của các cơ quan quản lý nhà nước, của các doanh nghiệp
nhà nước và cả của các doanh nghiệp tư nhân
-
Quy trình thực hiện công tác tư vấn.
-
Trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của bên tư vấn.
-
Trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của bên được tư vấn.
4.
Về nghiên cứu khoa học và chuyển giao kết quả nghiên cứu:
Kết quả của hoạt động này ở nước ta trong
nhiều năm qua như thế nào, đã quá rõ ràng, ai cũng biết. Chúng tôi xin được bàn
về nguyên nhân.
Trong vấn đề này, khi sự yếu kém bao trùm
cả hệ thống và kéo dài qua nhiều năm, thì nguyên nhân đầu tiên và lớn nhất phải
kể đến là sự yếu kém của công tác quản lý, cụ thể:
-
Yếu kém về xây dựng và quản lý quy hoạch: luật pháp hiên nay là,
chính phủ ban hành quy hoạch, các bộ và UBND cấp tỉnh triển khai quy hoạch của
chính phủ…, khi xây dựng quy hoạch, các cập phải lập ra hội đồng tư vấn để tham
vấn. Đây là dạng quy hoạch dội từ trên xuống. Càng ở trên cao thì càng ít gần
thực tế, nhu cầu của cuộc sống đời thường.
-
Hành chính hóa quản lý bằng cơ chế xin cho: Các tổ chức khoa học,
các nhà khoa học có thể đề xuất những đề tài. Cơ chế xét duyệt và cấp kinh phí
xem ra rất chặt chẽ, rất công bằng, nhưng vẫn không thoát ra khỏi cơ chế xin
cho.
-
Không có chế tài trong việc ứng dụng đề tài nghiên cứu khi cấp
kinh phí nghiên cứu, dãn đến tình trạng kết quả nghiên cứu bỏ xó dù kinh phí
nghiên cứu được cấp rất lớn.
- Dù luật pháp quy định chặt chẽ tính minh bạch, nhưng thực tế vẫn chưa minh bạch.
5. Về Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao:
Luật khoa học và công nghệ quy định các tổ chức khoa học và công nghệ phải tham gia công tác đào tạo. Luật giáo duc đào tạo quy định các trường đại học phải làm công tác nghiên cứu khoa học. Nghĩa là các tổ chức chức khoa học và công nghệ và các trường đại học đều có những nhiệm vụ chung và luôn sát cánh bên nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.
Hiện tại nền giáo dục của chúng ta đang sa sút nghiêm trọng, thì hoạt động đào tạo của phía các tổ chức khoa học và công nghệ cũng bị ảnh hưởng nặng nề.
Có lẽ chỉ còn cách chờ đợi tới ngày nền giáo dục đào tạo của chúng ta được vực lên, thì nhiệm vụ Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao của các tổ chức Khoa học Công nghệ mới có thể hồi sinh, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống.
6. Về Dịch vụ Khoa học Công nghệ:
Dịch vụ Khoa học
Công nghệ được tiến hành thông qua các
hợp đồng kinh tế
Việt Nam đã có luất
đấu thầu, luật rất hoàn chỉnh.
Rất tiếc việc thực
hiện Luật đấu thầu của chúng ta chưa bao giờ nghiêm túc. Ở đâu cũng nghe chuyện
“quân xanh, quân đỏ, chân gỗ,…”
Hậu quả là Dịch vụ
Khoa học Công nghệ không còn mang tính
Khoa học, tính tối ưu, dẫn đến những lãng phí vô củng lớn cho đất nước, cho
nhân dân
No comments:
Post a Comment