01 July 2010

Tiềm năng và triển vọng tiết kiệm năng lượng Việt Nam

NĂM 2010 THÁNG 7 NGÀY 01
BLOG “HỘI HASCON VÀ VIỆN EEI”
 
TIỀM NĂNG VÀ TRIỂN VỌNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Tiến sĩ Nguyễn Bách Phúc
Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý TP. HCM HASCON
Viện trưởng Viện Điện - Điện tử - Tin học EEI

    Năm 1997 Bộ khoa Học Công Nghệ và Môi Trường công bố kết quả nghiên cứu của dự án “Tổng Sơ Đồ TKNL”, theo đó, tiềm năng TKNL của các ngành công nghiệp Việt Nam được đánh giá từ 29 – 55% của mức tiêu thụ năng lượng, tùy theo ngành công nghiệp và mức độ đầu tư.


1. TIỀM NĂNG

    Năm 1997 Bộ khoa Học Công Nghệ và Môi Trường công bố kết quả nghiên cứu của dự án “Tổng Sơ Đồ TKNL”, theo đó, tiềm năng TKNL của các ngành công nghiệp Việt Nam được đánh giá từ 29 – 55% của mức tiêu thụ năng lượng, tùy theo ngành công nghiệp và mức độ đầu tư.

    Tuy nhiên, các chuyên gia quốc tế thông qua các khảo sát thực tế đã ước tính rằng, chỉ với các biện pháp quản lý và đầu tư thấp các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm khoảng 10% năng lượng tiêu thụ hiện hữu, còn với điện năng (DSM), chỉ dùng các biện pháp đơn giản, ít tốn kém, Việt Nam có thể giảm khoảng 20% công suất đỉnh. Lưu ý rằng 20% công suất đỉnh của Việt Nam năm 2005 tương đương khoảng 2000 MW, với tiền đầu tư xây dựng nguồn phát khoảng gần 2 tỷ USD.

    Những số liệu trên là của giai đoạn năm 1997, nhưng đến nay vẫn còn có ý nghĩa vì:

+ Các chuyên gia kiểm toán năng lượng Việt Nam tích lũy dần kinh nghiệm, kỹ năng và phương tiện, nhiều tiềm năng tiết kiệm mà trước đó chưa được nhìn thấy sẽ được phát hiện, từ đó, tiềm năng TKNL phát hiện được sẽ tăng lên.

+ Khối Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được chú ý khảo sát đúng mức trong nghiên cứu nói trên, trong khi năng lực đầu tư khá hạn chế và thiết bị xuống cấp dần theo tuổi thọ. Vì thế, tiềm năng TKNL tổng thể có thể cao hơn nếu được khảo sát đầy đủ.

    Nhìn chung, tiềm năng TKNL ở nước ta hiện nay chủ yếu nằm ở khâu quản lý kỹ thuật và vận hành. Đặc biệt là công tác theo dõi, đo lường chưa được chú ý. Do đó, doanh nghiệp hầu như chưa biết mức tiêu thụ năng lượng thực tế của mình để có thể có phương hướng cải thiện. Một số doanh nghiệp có thiết lập hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO, nhưng do các chuyên viên tư vấn về ISO không phải là các chuyên viên năng lượng, nên chưa đề xuất được cho doanh nghiệp những tiêu chí (indicators) để đo lường và theo dõi một cách phù hợp. Ngoài ra, phương thức xử lý và khai thác các số liệu thống kê ghi nhận, cũng chưa được hiểu rõ đầy đủ để có thể tìm ra phương hướng và quyết định cải tiến.

    Công tác bảo trì định kỳ cũng chưa được chú ý lập kế hoạch, thực hiện và theo dõi đầy đủ, khiến cho thiết bị mau xuống cấp và gia tăng mức tiêu thụ năng lượng, nói riêng, và nguyên nhiên vật liệu, nói chung. Một số doanh nghiệp sẵn sàng mua thiết bị mới trong khi không hề chú ý đến quản lý, cải thiện chế độ vận hành của thiết bị hiện có và hệ thống phụ trợ, với chi phí rẻ hơn nhiều. Kết quả thường là thiết bị mới vẫn tạo ra các lãng phí như trước.

    Công tác đào tạo và giám sát thao tác vận hành của công nhân cũng chưa được chú ý đúng mức. Xu hướng chung của các doanh nghiệp là áp dụng giải pháp cuối nguồn, nghĩa là tập trung giám sát chất lượng sản phẩm cuối cùng mà chưa chú ý đến thao tác trong suốt dây chuyền sản xuất, từ đó những thao tác hoặc tập quán chưa hợp lý đang gây ra những lãng phí đáng kể.

    Công tác giám định khi mua sắm thiết bị cũng có một vai trò không nhỏ đối với khả năng TKNL. Xu hướng hiện nay, đa số các doanh nghiệp chỉ chú ý tiết giảm chi phí đầu tư ban đầu bằng cách chọn các thiết bị rẻ, mà chưa chú ý đến toàn bộ chi phí trong suốt vòng đời của thiết bị.

    Các doanh nghiệp thường xem TKNL là một hoạt động độc lập, riêng lẻ. Thực tế, nó gắn rất chặt với vấn đề quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm, như là một thành phần trong tổng thể đồng bộ của các hoạt động của doanh nghiệp. Và vì thế, họ thường không đưa TKNL như là hoạt động tác nghiệp thường xuyên. Thông thường, nếu công tác TKNL được thực hiện tốt, như là hệ quả kéo theo, hệ thống quản lý của doanh nghiệp sẽ được nâng cao, các nguyên vật liệu khác sẽ được tiết kiệm hơn, chất lượng sản phẩm sẽ cao hơn, môi trường của doanh nghiệp và điều kiện làm việc của cán bộ, công nhân sẽ tốt hơn, và đặc biệt là hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng sẽ được nâng lên, và từ đó, tính cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ mạnh hơn.

2. TRIỂN VỌNG

    Với xu thế hội nhập của Việt Nam, và nhất là xu thế dỡ bỏ hàng rào thuế quan trong thời gian sắp tới, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt không những về chất lượng, mà còn về giá cả. Vì thế, bên cạnh một số biện pháp khác, TKNL sẽ là một biện pháp để giảm giá thành.

    Từ đó, nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật và thông tin sẽ ngày càng nhiều hơn, sẽ tạo ra một thị trường mới: thị trường dịch vụ năng lượng.

    Từ việc thực hiện các hoạt động TKNL, các nhà doanh nghiệp sẽ từng bước hiểu rõ hơn về những yếu tố cần cân nhắc khi đầu tư có liên quan đến mua sắm thiết bị và công nghệ, họ sẽ thận trọng hơn trong việc chọn lựa thiết bị. Từ đó, Việt Nam sẽ giảm nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ” do việc nhập thiết bị lạc hậu không chọn lọc.

    Ngoài ra , nếu chưa bán được, doanh nghiệp có thể “ký gửi” (banking) để chờ cơ hội tìm kiếm khách hàng (Chi tiết về CDM, có thể xem tại trang web:http://www.noccop.org.vn).

3. KẾT LUẬN

    Hiện nay, hoạt động tiết kiệm đang có chiều hướng phát triển tích cực về chiều rộng, tuy nhiên, về chiều sâu, vẫn còn nhiều mảng cần hoàn thiện thêm.

Về nhân lực: Đa số các chuyên viên tư vấn hiện hữu về TKNL được đào tạo từ các chuyên ngành kỹ thuật thiết kế và chế tạo hệ thống năng lượng, vốn để phục vụ cho phía cung cấp. Vì vậy, để có thể phát huy hiệu quả của lực lượng này, cần bồi dưỡng thêm về kỹ thuật hợp lý hóa sử dụng năng lượng, là những phương thức để phục vụ cho phía yêu cầu. Một dự án dự kiến khởi động vào đầu năm 2005, do Bộ Khoa Học và Công nghệ, với sự trợ giúp của GEF( Global Environmant Facility – Quỹ Môi Trường Toàn Cầu) đang chuẩn bị thực hiện công việc này như là một phần của dự án. Ngoài ra, số lượng chuyên viên đáp ứng tiêu chuẩn theo thông tư 01/2004/TT-BCN vẫn còn thiếu trầm trọng.

    Ngoài ra, nhìn về hướng lâu dài, công tác đào tạo kỹ sư năng lượng phục vụ cho phía nhu cầu, cũng cần được nhìn đến ngay từ các trường đại học.

Thông tin: Rất nhiều doanh nghiệp chưa từng nghe hoặc rất ít thông tin về các hoạt động hỗ trợ về TKNL cũng như về thông tin công nghệ để có những quyết định đầu tư đúng đắn. Dự án nói trên cũng có một thành phần quan trọng dành cho công tác thông tin, nhận thức và thiết lập các kênh thông tin đến người sử dụng cuối cùng.

Cơ chế: Một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động tiết kiệm chưa thâm nhập sâu đến các doanh nghiệp là hiện nay hoạt động năng lượng vẫn chưa được xã hội hóa rộng rãi. Các nguồn kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp vẫn phải được thông qua một số tổ chức được chỉ định. Vì vậy các doanh nghiệp không được lựa chọn, trong khi cơ quan được rót nguồn tài chính vẫn chưa có mục tiêu tìm kiếm khách hàng rõ ràng để hỗ trợ cụ thể, mà vẫn loay hoay nhắm đến việc tìm kiếm các dự án mang tính nghiên cứu và chiến lược. Hệ quả là cả hai phía cung và cầu chưa thực sự gặp được nhau.

Tài chính: Theo nghiên cứu của NEDCEN (Trung Tâm Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ - Liên Minh Hợp Tác Xã Việt Nam), các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một tỷ trọng khống chế trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng của ngành công nghiệp, nhưng năng lực đầu tư của khu vực này tương đối hạn chế. Hơn nữa, đối với họ, TKNL là một khái niệm khá mới. Vì vậy chia sẻ rủi ro trong khâu đầu tư giữa chủ sở hữu doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ năng lượng thường được đặt ra. Tuy nhiên, cơ chế, pháp quy về trọng tài để phân xử trong vấn đề này vẫn chưa có, khiến cả hai bên đều ngần ngại trong việc thực hiện các kiến nghị của công đoạn kiểm toán năng lượng có liên quan đến đầu tư.

No comments:

Post a Comment