16 June 2015

Câu Chuyện “Sân Bay Quốc Tế Long Thành”, 5 Năm Tranh Luận Không Ngã Ngũ

NĂM 2015 THÁNG 6 NGÀY 16
HASCON.NET
BLOG HỘI HASCON VÀ VIỆN EEI
https://hoihasconvavieneei.blogspot.com/2015/06/nam-2015-thang-6-ngay-16-hascon.html

CÂU CHUYỆN  “SÂN BAY QUỐC TẾ LONG THÀNH”,
5 NĂM TRANH LUẬN KHÔNG NGÃ NGŨ
 
TS Nguyễn Bách Phúc
Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON
Viện trưởng Viện Điện – Điện tử - Tin học EEI
 

Mấy năm nay mọi người bàn bạc rất nhiều, công luận dành nhiều giấy mực cho câu chuyện sân bay Long Thành.

Với thời gian bàn bạc dài như thế, lẽ ra chúng ta đã phải đạt được đồng thuận. Nhưng tiếc  thay,kết quả lại ngược lại, chúng ta càng xa nhau! 

Vì sao nên nỗi? 

1.   Về phương pháp luận trong tranh luận: 

Thứ nhất, theo chúng tôi ở Việt Nam hiện nay trong mọi cuộc thảo luận ồn ào trên công luận, mỗi người tham gia đều xuất phát từ hiểu biết, cách nhìn và kinh nghiệm của riêng cá nhân mình, mà không trên một cơ sở chung, vì vậy mỗi người có một kiểu lập luận riêng, dẫn đến những kết luận trái chiều, nhưng ai cũng nghĩ rằng mình đúng.

Thứ hai, hầu hết các chuyên gia, các nhà Khoa học trong các cuộc tranh luận đều chỉ xem xét và lập luận theo ”định tính”, mà không theo ”định lượng”. Trong khi mọi việc trên đời luôn luôn tồn tại hai mặt đối lập, kiểu xét ”định tính” nhưng chỉ khai thác mặt ”lợi” thì sẽ dẫn đến kết luận ”lợi”, ngược lại, chỉ xét ”định tính” nhưng chỉ khai thác mặt ”hại” thì sẽ dẫn đến kết luận ”hại”, nghĩa là kiểu xét định tính sẽ dẫn đến kết quả đúng hoặc sai lợi hoặc hại theo chủ ý của người xét, chứ không theo thực tế khác quan. Còn xét vấn đề theo phương pháp ”định lượng” thì sẽ cho ra kết quả phù hợp với khoa học, với thực tế khác quan, không thể chối cãi được.Tiếc thay hầu hết những ý kiến bình luận về câu chuyện sân bay Long Thành đều là những lập luận phân tích định tính, rất ít người dám đụng vào định lượng.

Riêng chúng tôi, mọi suy nghĩ, mọi biện luận đều dựa trên hai cơ sở bất di bất dịch là ”Khoa học và Pháp luật”, luôn quán triệt phương pháp định lượng. Đó là điểm khác nhau căn bản nhất giữa chúng tôi với các nhà bình luận khác, đó cũng là cách giải thích lý do tại sao kết luận của chúng tôi khác với kết luận của nhiều người. 

2.        Nhận thức mù mờ về các bước của quá trình đầu tư xây dựng công trình theo Pháp luật và Khoa học: 

Chúng tôi cho rằng một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác biệt trái chiều của cuộc thảo luận là ở chỗ đa số chúng ta không tìm hiểu, không nhận thức được rằng quá trình đầu tư xây dựng một công trình đều phải qua những bước theo đúng pháp luật và theo đúng khoa học. Thường thì chúng ta hiểu mù mờ đại khái và phát biểu tùy tiện bất chấp Khoa học và Pháp luật.

Bất cứ một công trình nào dù lớn như đường sắt cao tốc Bắc-Nam 56 tỷ USD, sân bay Long Thành 18,7 tỷ USD, nhà máy điện nguyên tử Ninh Thuận 10 tỷ USD, hay những công trình nhỏ như xây dựng một khu nhà ở, nâng cấp hoặc làm mới một con đường trong Thành phố... đều phải qua 3 bước cơ bản là: Qui hoạch, Chuẩn bị đầu tư và Thực hiện đầu tư xây dựng. 

3. Không hiểu sự khác biệt về bản chất giữa ”Quy hoạch” và ”Đầu tư”, Không hiểu khái niệm ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình” 

3.1 Quy hoạch: 

Nghĩa đen của chữ ”Quy hoạch”, ”hoạch” là ”vạch ra”, là dự kiến những công việc sẽ làm, ”quy” là theo những quy mô dự kiến nào đó. ”Quy hoạch” nghĩa là dự kiến những công việc nào đó sẽ làm trong tương lai, với những quy mô dự kiến nào đó.

Khi thiết lập ”Quy hoạch” người ta đưa ra một số tiêu chí, chủ yếu là 4 tiêu chí: dự kiến mục tiêu của công viêc, dự kiến quy mô lớn nhỏ của công viêc, dự kiến thời gian bắt đầu và kết  thúc công việc, và dự kiến khoảng không gian thực hiện công việc.

Quy hoạch thường do các cấp chính quyền thiết lập, dựa vào đường lối chính sách chung, nhằm xác định mục tiêu, phương hướng cho hoạt động của đất nước, của địa phương trong toàn cục hay trong những lĩnh vực cụ thể. Vì vậy, Quy hoạch không cần những tính toán chi tiết, mà chỉ là những đánh giá tổng quan theo cảm quan, theo kinh nghiệm, theo đường lối chính sách.

Như vậy về bản chất qui hoạch thể hiện ý chí, thể hiện tư tưởng, thể hiện mong muốn, thể hiện định hướng, và qui hoạch hoàn toàn không khẳng định nội dung, hình hài, của một công việc cụ thể. 

Có rất nhiều loại quy hoạch khác nhau:

-        Quy hoạch theo không gian: quy hoạch cả nước, quy hoạch vùng, quy  hoạch tỉnh... 

-        Quy hoạch theo thời gian: quy hoạch trăm năm, năm mươi năm, ba mươi năm, mười năm...

-        Quy hoạch theo ngành kinh tế quốc dân:  như giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, thủy hải sản ...

-        Quy hoạch theo chuyên ngành: ví dụ trong giao thông có quy hoạch theo ngành hàng không, đường bộ, đường thủy, đường biển...

-        Quy hoạch phát triển xã hội: quy hoạch phát triển giáo dục, quy hoạch phát triển văn hóa, quy hoạch phát triển truyền thông, báo chí...

           Ngoài những loại quy hoạch nói trên, còn có một loại quy hoạch khác, là Quy hoạch chi tiết, theo Luật Quy hoạch, là quy hoạch cho một công trình cụ thể. Quy hoạch chi tiết chỉ được thiết lập sau khi Quốc hội ra Nghị quyết về chủ trương đầu tư, trên cơ sở xem xét ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.  Quy hoạch này chỉ xác định về việc sử dụng đất, về không gian kiến trúc, cảnh quan, môi trường, và sự phù hợp với Quy hoạch vùng, Quy hoạch chung. Thủ Tướng  Chính phủ giao Bộ Xây dựng thành lập Hội đồng thẩm định, tiến hành thẩm định. 

3.2 Đầu tư: 

Nghĩa đen của chữ ”đầu tư”, ”đầu” nghĩa là ”đưa vào”, ”tư” nghĩa là ”vốn liếng, của cải”. ”Đầu tư” thực chất là ”đưa vốn liếng của cải vào một công trình cụ thể”.

Như vậy, đầu tư và quy hoạch là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, hai sự kiện hoàn toàn khác nhau, và về luật pháp có hai luật hoàn toàn khác nhau: Luật Quy hoạch và Luật Đầu tư.    

Qui hoạch là thể hiện ý chí, định hướng cho tương lai, chỉ dự kiến kết quả thành công, chứ không tính đến thất bại. Còn đầu tư là việc làm thực, tốn tiền của, kết quả cuối cùng có thể thành công hoặc thất bại.

Chính vì vậy mở đầu của công việc đầu tư, nhất là đối với những công trình lớn, luật pháp bắt buộc chủ đầu tư phải chứng minh được tính ”khả thi” của công trình tương lai.

Khi thiết lập quy hoạch, người ta không xét đến tính ”khả thi”, còn khi bước vào đầu tư thì người ta buộc phải xét đến tính ”khả thi” của công trình (nghĩa đen của chữ ”khả thi”, chữ ”khả” nghĩa là ”có thể”, ”có khả năng”, chữ ”thi” nghĩa là ”thực thi được”, ”thực hiện được”). Xét ”tính khả thi” nghĩa là xét xem công trình có thể thực hiện được hay không, có khả năng mang lại kết quả như thế nào, tốt hay xấu.

Công việc đầu tiên khi bước vào chuẩn bị đầu tư là phải thiết lập ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.

Luật pháp bắt buộc chủ đầu tư phải thuê tư vấn thiết lập ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.

Lưu ý rằng, cách tiếp cận tính” khả thi” của công việc chuẩn bị đầu tư là ”nghiên cứu”, có nghĩa là phải tìm kiếm, so sánh, tính toán, rất chặt chẽ các yếu tố kinh tế kĩ thuật và các điều kiện khách quan, để cuối cùng rút ra kết luận của nghiên cứu rằng tương lai của công trình là thành công hay thất bại, là lỗ hay lời, có đáng thực hiện công trình này hay không.

Cách tiếp cận này hoàn toàn khác với cách tiếp cận khi thiết lập ”Quy hoạch”, không cần ”nghiên cứu”, mà chỉ cần tưởng tượng, ước mơ. 

3.3 Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình” 

 Báo cáo này phải gồm những nội dung chủ yếu là:

-        Thiết kế sơ bộ về công trình,

-        Tính tổng mức đầu tư,

-        Khả năng huy động vốn

-        Tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

 

3.3.1 Thiết kế sơ bộ công trình

phải nghiên cứu và tính toán các thông số sau đây:

-        Dự báo tăng trưởng lượng hành khách và hàng hóa trong tương lai, 20 năm, 50 năm..., theo các phương pháp dự báo khoa học tân tiến,

 gắn liền với những dự báo phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của khu vực và của thế giới.

-        Đưa ra 4 phương án, thiết kế sơ bộ cho 4 phương án đó, với các chỉ tiêu: quy mô công trình, lựa chọn công nghệ chính, lựa chọn địa điểm, diện tích đất cần sử dụng. Tính toán sơ bộ tổng mức đầu tư và tính toán sơ bộ hiệu quả kinh tế xã hội của 4 phương án.

-        So sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của 4 phương án này để chọn phương án tối ưu.


3.3.2 Tính tổng mức đầu tư,và khả năng huy động vốn:

-        Trên cơ sở phương án tối ưu, tính toán chi tiết hơn để xác định lại tổng mức đầu tư

-        Tính toán và dự kiến phân kì đầu tư hợp lý

-        Dự kiến khả năng huy động vốn

-        Dự kiến khả năng thu hồi vốn và trả nợ vốn vay.

-        Dự kiến các giải pháp bảo vệ môi trường.

-        Dự kiến thời gian, tiến độ thực hiện, hình thức đầu tư

 

3.3.3 Phải tuân theo 6 tiêu chí của Nghị quyết 49/2010/QH13 của Quốc hội:

a) Sự đáp ứng tiêu chí xác định dự án, công trình là quan trọng quốc gia;

b) Sự cần thiết đầu tư;

c) Việc tuân thủ các quy định của pháp luật;

d) Sự phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; quy hoạch sử dụng đất, tài nguyên; phương án di dân, tái định canh, định cư;

đ) Những thông số cơ bản của dự án, công trình, bao gồm quy mô, hình thức đầu tư, địa điểm, diện tích đất cần sử dụng, thời gian, tiến độ thực hiện, phương án lựa chọn công nghệ chính, giải pháp bảo vệ môi trường, nguồn vốn, khả năng thu hồi vốn và trả nợ vốn vay;

e) Hiệu quả kinh tế - xã hội 

4.   Không nắm vững thủ tục và trình tự chuẩn bị đầu tư công trình lớn: 

Có thể phân chia việc đầu tư xây dựng công trình thành 2 bước, bước chuẩn bị đầu tư và bước thực hiện đầu tư xây dựng. 

4.1 Chuẩn bị đầu tư: là một công việc phức tạp và tế nhị, thủ tục và trình tự chuẩn bị đầu tư công trình lớn như Sân bay Long Thành phải tuân thủ ít nhất 10 Văn bản pháp luật, và phải vượt qua 9 công đoạn.

Công đoạn đầu tiên, như đã nói ở trên, là phải thiết lập ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.

Đối với những công trình lớn, Luật pháp còn bắt buộc việc ”nghiên cứu” tính ”khả thi” phải được thực hiện ở 2 mức độ, mức độ thứ nhất là ”tiền khả thi”, và sau đó là mức độ ”khả thi”.

Với công trình sân bay Long Thành, Luật pháp Việt Nam qui định: việc trước tiên là Chính phủ phải trình Quốc Hội ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”. Quốc Hội sẽ xem xét sự đúng sai của Báo cáo này, xem xét lợi ích kinh tế xã hội của công trình, để Quốc Hội bỏ phiếu thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư.

Nếu Quốc Hội không thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư, thì công việc chuẩn bị đầu tư tạm đình lại. Lúc ấy Chính phủ sẽ có 1 trong 2 cách ứng xử. Một là làm lại ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” rồi trình quốc hội trong kỳ họp sau, tiếp tục trình cho đến khi nào Quốc Hội thông qua thì thôi, còn cách thứ 2 là dẹp bỏ chuyện đầu tư, không làm lại báo cáo tiền khả thi, không trình Quốc Hội nữa.

Nhắc lại năm 2010 Quốc Hội đã bỏ phiếu nhưng không thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư cho công trình đường sắt cao tốc Bắc-Nam 56 tỷ USD. Sau đó không thấy Chính phủ làm lại ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” trình Quốc Hội lần thứ 2, nên có thể hiểu rằng công trình này đang bị dẹp lại cho đến hôm nay. 

4.2 Thực hiện đầu tư xây dựng: Bước này chỉ bắt đầu chỉ khi bước Chuẩn bị Đầu tư đã được hoàn thành trọn vẹn. 

5.   Lầm lẫn giữa ”sân bay Quốc tế Long Thành trong Quy hoạch” với ” sân bay Quốc tế Long Thành trong  Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”:

Cụm từ ”sân bay Quốc tế Long Thành” đã xuất hiện khoảng 20 năm nay trong các loại Quy hoạch, các Nghị quyết, Quyết Định,

Như đã phân tích ở trên 

6.   Lầm lẫn giữa ”sự cần thiết và đúng đắn của chủ trương đầu tư” với việc ”thông qua nghị quyết về chủ trương đàu tư”:

 

 

-       Luật Xây dựng năm 2003 số16/2003/QH11, ngày26/11/2003(từ 1/1/2015 là Luật xây dựng năm 2014,số50/2014/QH13ngày 18 tháng 06 năm 2014),

-       Văn bản số 3482/BXD-HĐXD ngày 30/12/2014 v/v thực hiện Luật Xây dựng số 50/2014/QH13.

-        Nghị quyết 49/2010/QH12 của Quốc Hội Về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, ngày 19/06/2010,

-        Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngày 12 tháng 02 năm 2009,

-        Luật Quy hoạch Đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/06/2009 và

-        Nghị định về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị số 37/2010/NĐ-CP, ngày 07 tháng 4  năm 2010,

-        Luật Bảo vệ môi trường s55/2014/QH13ngày 23 tháng 06 năm 2014   

-        Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014

-        Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014

-        Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 

Thủ tục và Trình tự chuẩn bị đầu tư xây dựng phải qua 9 bước như sau:

1. Bước 1, Thiết lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình”(trước1/1/2015 gọi là “Báo cáo đầu tư xây dựng công trình”) 

1.1-  Chủ đầu tư thiết lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình”, trong đó nội dung chủ yếu là thiết kế sơ bộ về công trình, tính tổng mức đầu tư và hiệu quả kinh tế xã hội, cụ thể là tuân theo 6 tiêu chí của Nghị quyết 49/2010/QH13 của Quốc hội:

a) Sự đáp ứng tiêu chí xác định dự án, công trình là quan trọng quốc gia;

b) Sự cần thiết đầu tư;

c) Việc tuân thủ các quy định của pháp luật;

d) Sự phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; quy hoạch sử dụng đất, tài nguyên; phương án di dân, tái định canh, định cư;

đ) Những thông số cơ bản của dự án, công trình, bao gồm quy mô, hình thức đầu tư, địa điểm, diện tích đất cần sử dụng, thời gian, tiến độ thực hiện, phương án lựa chọn công nghệ chính, giải pháp bảo vệ môi trường, nguồn vốn, khả năng thu hồi vốn và trả nợ vốn vay;

e) Hiệu quả kinh tế - xã hội;

1.2.- Hội đồng thẩm định Nhà nước xem xét và trình Thủ tướng Báo cáo của Hội đồng thẩm định nhà nước”;

1.3.- Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” và Báo cáo của Hội đồng thẩm định nhà nước”;

2. Bước 2, Quốc Hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư:

2.1.-  Ít nhất 60 ngày trước ngày khai mạc Kỳ họp Quốc hội, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”, và ”Báo cáo của Hội đồng thẩm định nhà nước”;

2.2-  Cơ quan có liên quan của Quốc hội thẩm tra Hồ sơ Chính phủ trình,

2.3.- Quốc Hội xem xét  thảo luận về”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” tại các buổi họp

2.4-.  Quốc Hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư

 

3.    Bước 3, Thiết lập Quy hoạch xây dựng chi tiết

 

4.    Bước 4, Thiết lập ”Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng công trình (trước 1/1/2015 gọi là “Dự án đầu tư xây dựng công trình”):

 

4.1   Chủ đầu tư thuê tư vấn thiết lập “Báo cáo nghiên cứu khả thi trên cơ sở ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” đã được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, và trên cơ sở “Quy hoạch xây dựng chi tiết” đã được Thủ Tướng phê duyệt, 

4.2- Hội đồng thẩm định Nhà nước xem xét và trình Thủ tướng Báo cáo của Hội đồng thẩm định nhà nước”;

4.3.- Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt ”Báo cáo nghiên cứu khả thi” và Báo cáo của Hội đồng thẩm định nhà nước;

-        Bước 5, v.v... 

Chuyện sân bay Long Thành, tại thời điểm hiện nay là giai đoạn đầu tư xây dựng. Mọi việc liên quan đến cuộc tranh luận hiện nay phải là câu chuyện đầu tư xây dựng chứ không phải câu chuyện quy hoạch. 

Mấu chốt của câu chuyện sân bay Long Thành hiện nay là:

-        Sửa chữa ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”, theo đúng pháp luật, đảm bảo chuẩn xác.về mặt khoa học, theo đúng yêu cầu của Hội nghị Trung ương lần thứ 11

-        Quốc hội sẽ thông qua ”Chủ trương đầu tư”, việc thông qua được căn cứ  trên cơ sở xem xét ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” 

           Vừa qua Chính phủ đã trình Bộ Chính trị ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”  và đề nghị Bộ Chính trị thông qua ”Chủ trương đầu tư” trên cơ sở xem xét ”Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.

     Bộ Chính trị đã đưa vấn đề này ra Hội nghị Trung ương lần thứ 11. 

Hội nghị Trung ương lần thứ 11 đã ra Thông báo về “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Đầu tư xây dựng Cảng Hàng không Quốc tế Long Thành”, Thông báo viết: “Ban chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện dự án, cần lưu ý xác định rõ những tiêu chí, điều kiện tiền để để trở thành một cảng trung chuyển hàng không quốc tế trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các sân bay trung chuyển quốc tế trong khu vực Đông Nam Á. Tính toán kỹ hiệu qủa đầu tư, lộ trình, phân kỳ đầu tư sao cho khả thi, phù hợp với tình hình phát triển của ngành hàng không Việt Nam và khả năng huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển; vấn đề sử dụng đất, phương án giải phóng mặt bằng và tái định cư; việc lựa chọn công nghệ, kỹ thuật và mô hình quản lý, vận hành, khai thác sau khi dự án hoàn thành; hiệu quả kinh tế-xã hội và hiệu quả đầu tư của dự án; tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vấn đề huy động các nguồn vốn đầu tư của xã hội, khả năng hoàn vốn; biện pháp khắc phục tình trạng lâu nay các dự án đầu tư thường vượt quá cao so với dự toán ban đầu …” 

Hội nghị Trung ương lần thứ 11 còn yêu cầu Bộ GTVT trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” phải “Nghiêm túc lắng nghe và tiếp thu các ý kiến góp ý xác đáng và giải trình rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, nhất là ý kiến phản biện của các tổ chức, cá nhân có trình độ chuyên môn về các lĩnh vực có liên quan đến Dự án. Bảo đảm tính công khai, minh bạch; làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống Chính trị và sự đồng thuận cao trong xã hội.” 

Như vậy, công việc cấp thiết nhất hiện nay là Bộ Giao thông Vận tải phải tiến hành hoàn thiện “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” theo yêu cầu của Trung ương, phải điều chỉnh sửa chữa 9 điều bất cập mà Trung ương đã nêu ra, có nghĩa là phải làm lại “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.

Nhưng rất tiếc, trong hai cuộc Diễn đàn và Hội thảo vừa qua, Ban tổ  chức đã dành phần lớn thời gian cho ”phe bảo thủ” biện minh cho sự cần thiết của việc xây dựng sân bay Long Thành, điều mà Trung ương đã khẳng định,  và Trung ương không yêu cầu Bộ GVT chứng minh.

Họ luôn luôn viện dẫn rất nhiều quy hoạch của các cấp của Đảng và chính quyền từ cuối thế kỷ 20 đến nay, vốn chỉ là những quy hoạch xác định mục tiêu và định hướng, làm cơ sở, nền tảng cho những biện minh của họ.

Việc làm này đã làm rối loạn nhận thức của dư luận, của công chúng, và tệ hại hơn, là của chính họ

Hội nghị Trung ương đã vạch ra 9 bất cập của  “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.

Theo chúng tôi, những bất cập này xuất phát từ những nguyên nhân chính sau đây:

- Công việc quan trọng đầu tiên của Báo cáo là phải dự báo chính xác sự tăng trưởng số lượng hành khách của sân bay, nhưng ở đây đã sử dụng phương pháp hết sức thô sơ, trên cơ sở những số liệu không chắc chắn, mà không dùng những phương pháp dự báo khoa học hiện đại để có thể tiến tới kết quả chính xác.

- “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” không có phần thiết kế sơ bộ, là phần quan trọng nhất của báo cáo, là phần cơ bản để xác định quy mô kích thước và các thông số kỹ thuật của sân bay, mà lại sử dụng những thông số của các quy hoạch trước đó, những quy hoạch được xây dựng theo trí tưởng tượng của các chuyên gia không phải là chuyên gia thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng sân bay.

- Từ hai lý do trên dẫn đến Báo cáo đã hình dung ra một cái sân bay “không giống ai.

- Kết quả của cái “không giống ai” là sân bay sẽ phi kinh tế, nghĩa là hiệu quả kinh tế sẽ rất thấp. Để tính hiệu quả kinh tế xã hội của việc đầu tư xây dựng một công trình, khoa học đã đưa ra hai chỉ tiêu là “Chỉ tiêu Tỷ suất nội hoàn kinh tế EIRR” và “Chỉ tiêu Tỷ suất nội hoàn tài chính FIRR”. Nhưng “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi” đã trình Quốc hội lại cố tình tính sai hoàn toàn chỉ tiêu này, thực ra chỉ vài ba phần trăm nhưng lại tính khống lên 22%.

           - “Báo cáo” chỉ trình Quốc hội tổng mức đầu tư và chỉ tiêu EIRR của giai đoạn một, mà không trình Quốc hội cả ba giai đoạn. Điều này là trái với Luật Xây dựng 2003, Luật Xây dựng 2014 và Nghị quyết 49/2010 của Quốc hội. 

Hưởng ứng Thông báo của Hội nghị lần thứ 11, ngày 14/5/2015 Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý TP HCM HASCON đã trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, và Bộ GTVT bản Kiến nghị số  15-030 /HTV, kiến nghị Bộ Giao thông Vận tải phối hợp với Hội Tư vấn HASCON tổ chức những cuộc thảo luận trực tiếp giữa các chuyên gia của hai bên về những vấn đề mà Ban chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu nghiên cứu để hoàn thiện “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”.

Qua phát biểu của nhiều người, chúng tôi thấy đa số chúng ta không để ý đến các thủ tục cần thiết theo đúng pháp luật trong quá trình chuẩn bị đầu tư xây dựng một công trình lớn, tầm cỡ như sân bay Long Thành, và cũng không để ý đến trình tự thực hiện các thủ tục đó theo đúng pháp luật. 

 

Viện Điện Điện tử Tin học EEI chúng tôi là một Thành viên của ”Hiệp Hội Tư vấn đầu tư xây dựng Việt Nam”. Viện chúng tôi đã thực hiện trên 100 Hợp đồng tư vấn đầu tư xây dựng với các Chủ đầu tư là Doanh nghiệp Nhà nước, vì vậy Viện cũng biết được ít nhiều về câu chuyện này. 

Nhưng chúng tôi đã rất ngạc nhiên và thất vọng trước cách ứng xử của Bộ GTVT đối với yêu cầu của Trung ương, và đối với Kiến nghị của chúng tôi. 

Ngày 14/5/2015 Cục Hàng không Việt Nam và Báo Lao Động tổ chức Hội thảo mang tên “Dư án Cảng hàng không Quốc tế Long Thành – Một cách nhìn khách quan, trung thực, xây dựng”, tại Tp Hồ Chí Minh. Chủ trì Hội thảo là thứ trưởng Bộ GTVT Phạm Quý Tiêu, Cục trưởng Cục Hàng không Lại Xuân Thanh, TGĐ VAC      Lê Mạnh Hùng, và Tổng Biên tạp Báo Lao Động. 

Hội thảo dành 3 tiếng đồng hồ cho các quan chức Bộ GTVT và của 3 chuyên gia Hà Nội biện luận, chứng minh cho sự cần thiết của sân  bay  Long Thành, điều mà Trung ương đã khẳng định và không yêu cầu Bộ GTVT chứng minh. Hội thảo chỉ dành 45 phút cho phần phản biện của 3 chuyên gia Hội Tư vấn HASCON và 1 chuyên gia độc lập. Hội thảo dành 15 phút cuối cùng cho Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu trả lời các ý kiến phản biện và tổng kết Hội thảo.

Như vậy, Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu thay mặt Bộ GTVT đã “Nghiêm túc lắng nghe và tiếp thu các ý kiến góp ý xác đáng” chỉ trong 45 phút, và “giải trình rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, nhất là ý kiến phản biện của các tổ chức, cá nhân có trình độ chuyên môn” chỉ trong 1 phần của 15 phút.

 Trong phần tổng kết Hội thảo Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu nói rõ: Hội thảo này chính là để Bộ GTVT lắng nghe, tiếp thu, giải trình, đi đến đồng thuận, theo yêu cầu của Hội nghị Trung ương 11. Thứ trưởng còn  trả lời thẳng thừng rằng “Bộ GTVT không thảo luận với Hội Tư vấn HASCON, vì Hội Tư vấn HASCON đã trình kiến nghị lên Bộ Chính trị.”

Đó là sự thật về cách ứng xử của Bộ GTVT đối với yêu cầu của Trung ương: 

Sự thật là như thế, còn Bộ GTVT báo cáo với Trung ương như thế nào, chúng tôi không được biết. 

Nhưng may thay một bài trên Báo Tiền Phong ngày 25 tháng 05 năm 2015 đã phơi bày rõ ràng đầy đủ  (http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/giam-54-ngan-ty-khong-phai-la-doi-pho-863854.tpo) trong cuộc phỏng vấn Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: 

“Thưa Phó Thủ tướng, Hội Tư vấn Khoa học công nghệ và Quản lý TPHCM (HASCON) có một tập hợp băn khoăn, thắc mắc về DA Cảng HKQT Long Thành? 

Trả lời: 

 Chính phủ đã nhận được những kiến nghị, nói đúng hơn là những băn khoăn ấy của HASCON. Băn khoăn từ cái tên Báo cáo đầu tư DA đến nội dung DA. Rằng kết cấu hạ tầng của DA không có khả năng thu hồi vốn đầu tư. Rồi xác định sai vai trò vị trí của Cảng HKQT Long Thành trong mục tiêu phát triển đất nước hiện nay. Rồi những bất cập về việc tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội và về giải pháp huy động vốn DA, về những rủi ro này khác khi thực hiện DA...

 Ban cán sự Đảng, Chính phủ và các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ, cụ thể là Bộ GTVT đã nghiêm túc, cẩn trọng nghiên cứu và có những giải trình công phu, khoa học, thỏa đáng từng điểm cụ thể.

Không riêng với những băn khoăn của HASCON, mà đối với những băn khoăn, vướng mắc khác đối với DA Long Thành, Chính phủ sẵn sàng có những hình thức thông tin giải trình thỏa đáng nhằm đạt sự đồng thuận cao đối với một DA kinh tế- xã hội quan trọng, nhạy cảm đang được đông đảo cử tri hết sức quan tâm.”

Chúng tôi hết sức đau lòng khi nhận ra Bộ GTVT đã làm một đằng nhưng báo cáo Chính phủ một nẻo. Chúng tôi không biết Bộ đã tổ chức bao nhiêu Hội thảo Hội nghị bí mật, còn Hội thảo công khai trên báo chí truyền thông thì duy nhất có 1, mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Bộ GTVT ngoài câu nói thẳng thừng ở Hội thảo của Thứ trưởng Tiêu, không hề có bất cứ một lời nào với Hội Tư vấn HASCON, cớ sao Bộ lại báo cáo Chính phủ rằng đối với những băn khoăn của HASCONBộ GTVT đã nghiêm túc, cẩn trọng nghiên cứu và có những giải trình công phu, khoa học, thỏa đáng từng điểm cụ thể.”? 

Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý TP HCM HASCON hy vọng những sự thật này sẽ được Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, và Bộ GTVT xem xét đánh giá đúng mức 

Ngày 1/6/2015 Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam  sẽ tổ chức Diễn đàn khoa học thảo luận về Dự án sân bay Long Thành “Công khai, khoa học và trách nhiệm”.

Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý TP HCM HASCON rất vinh dự được Viện Hàn lâm mòi 2 người tham dự: TS Nguyễn Bách Phúc, Chủ tịch Hội và PGSTS Nguyễn Thiện Tống, Chủ tịch Chi Hội Khoa học Công nghệ Hàng không của Hội

Chúng tôi hy vọng Diễn đàn này sẽ không lặp lại cách hành xử của Bộ GTVT ở Hội thảo ngày 14/5/2015.

Chúng tôi hy vọng Đại diện của Chính phủ sẽ có mặt ở Diễn đàn này, để biết sự thật, để không lặp lại câu chuyện của Bộ GTVT ở Hội thảo ngày 14/5/2015. 

So sánh Diễn đàn của Viện Hàn lâm KHXH VN ngày 1/6/2015 ở  HN với Hội thảo của Bộ GTVT ngày 14/5/2015 ở SG, chúng tôi rút ra một điều rằng cái sau về hình thức có chút ”cởi mở”  hơn cái trước, nhưng về bản chất về gốc rễ thì là một, đó là ”2 phe” vẫn giữ chặt quan điểm của mình, không hề ”nhúc nhích”. Cả 2 lần, tạm gọi là ”phe bảo thủ”, gồm PGSTS Trần Đình Thiên, TS Lương Hoài Nam, TS Trần Quang Châu đều vẫn nói y như cũ, vẫn ”kiên trì quan điểm” như cũ, còn tạm gọi là  ”phe cải cách” gồm TS Nguyễn Bách Phúc, PGSTS Nguyễn Thiện Tống, cũng thế, đều vẫn nói y như cũ, vẫn ”kiên trì quan điểm” như cũ.

Cứ thế này, chúng tôi cho rằng dù có thêm 10, 15 cuộc Diễn đàn hay Hội thảo đi nữa thì chắc chắn sẽ không có gì thay đổi.  Đơn giản là, phía chúng tôi chắc chắn sẽ không thay đổi quan điểm, và phía bên kia cũng như thế. Thực ra mọi người giữ chặt quan điểm của mình không ”nhúc nhích” là điều rất tốt, chứng tỏ ai cũng kiên định lập trường, ai cũng khẳng định chắc chắn mình là đúng và vì vậy không thể chấp nhận quan điểm ngược lại.

Vậy thì đâu là nguyên nhân, và lối thoát sẽ thế nào ?

Về nguyên nhân : chắc chắn  có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chúng tôi nghĩ có một nguyên nhân cơ bản là mọi người luôn luôn nhìn nhận vấn đề từ chỗ đứng của mình, theo nhận thức của mình, mà chỗ đứng và nhận thức của từng người thì lại rất khác nhau.

Riêng chúng tôi, chúng tôi luôn luôn chọn chỗ đứng và nhận thức trên hai nền tảng là khoa học và pháp luật.

 

Bài 1, Không phân biệt và lẫn lộn giữa ”Quy hoạch” và ”Đầu tư” 

       không những không phân biệt mà còn lẫn lộn giữa hai khái niệm ”Quy hoạch” và ”Đầu tư”, nói nôm na ”Quy hoạch” là dự kiến theo trí tưởng tượng, còn ”Đầu tư” là bỏ tiền ra làm thật.

Trong trường hợp ”Quy hoạch sân bay Long Thành”, được thiết lập từ những năm 90 của thế kỷ trước, phải hiểu như sau:

-        Muc tiêu: xây dựng một Cảng hàng không quốc tế hiện đại tương xứng với sự phát triển của VN trong thế kỷ 21

-        Dự kiến quy mô lớn nhỏ: quy hoạch đầu tiên thường là của các nhà chính trị, những nhà hoạch định chính sách cấp cao, họ thường có ước vọng lớn về phát triển và thịnh vượng của Đất nước, nên thường đưa ra những quy mô rất to lớn vĩ đại, đuổi kịp và vượt thế giới. Cụ thể: công suất 100 triệu hành khách/năm (đến hết năm 2014 trên thế giới chỉ có vài ba sân bay đạt chỉ tiêu này), diện tích sân bay 5000 ha (đến nay trên thế giới chỉ có vài ba sân bay đạt chỉ tiêu này), Tổng vốn đầu tư 18,7 tỷ USD (đến nay trên thế giới chỉ có vài ba sân bay đạt và vượt chỉ tiêu này). Người ta bảo Quy hoạch đẻ ra 1 cái sân bay ”chẳng giống ai”. Chẳng hạn, Mexico đang chuẩn bị xây dựng sân bay thủ đô mới, 120 triệu hành khách/năm, diên tích 4.500 ha, Tổng vốn đầu tư 11,7 tỷ USD.

-        Dự kiến thời gian bắt đầu và kết  thúc công việc: Quy hoạch chỉ ước lượng thời gian thực hiên, chứ không thể khẳng định được

-        Dự kiến khoảng không gian thực hiện công việc: Quy hoạch chỉ có thể dự kiến một vùng không gian để thực thi công việc, chứ không thể xác định chính xác 1 địa điểm. Trong trường hợp này, quy hoạch chỉ có thể chỉ định sân bay sẽ được xây dựng trong lãnh thổ Nam Bộ, hoặc tại miền đông Nam Bộ. Vì sao? Vì việc xác định chính xác địa điểm công trình là bài toán kinh tế kỹ thuật rất phức tạp, đòi hỏi đầy đủ những dữ liệu của điều kiện kinh tế kỹ thuật xã hội, đòi hỏi tính toán của các chuyên gia có chuyên môn sâu thuộc lĩnh vực tương ứng.

Rất tiếc, những quy hoạch sơ khai lại đã khẳng định như đinh đóng cột rằng địa điểm xây dựng sân bay tương lai là Long Thành. Sự khẳng định này là  trái luật pháp VN, trái chân lý khoa học.

  vậy, Quy hoạch này không có quyền và không có khả năng xác định. phải có

 

”Quy hoạch” khác nghĩa hoàn toàn với ”kế hoạch”, trong từ ”kế hoạch”, ”hoạch” vẫn là ”vạch ra”, là dự kiến những công việc sẽ làm,  ”kế” nghĩa là ”tính toán cụ thể”. ”Kế hoạch” nghĩa là tính toán sắp đặt cụ thể cho một công việc cụ thể.

 

 

 

         

  

 

 

No comments:

Post a Comment