TS Nguyễn Bách Phúc
Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON
Viện trưởng Viện Điện – Điện tử - Tin học EEI
Tính EIRR là một bài tính tương đối tế nhị, trong đó đưa
vào rất nhiều thông số giả định, dự doán, dự tính, được chọn lọc theo hiểu biết,
theo dự đoán hoặc thậm chí theo chủ ý của người tính. Vì vậy cùng một công
trình, bài tính có thể cho rất nhiều kết quả khác nhau.
Không những thế, xem xet hai nội dung về chi phí và lợi ích, chúng tôi thấy đều có những sai lầm nghiêm trọng:
1.
Về
lợi ích:
Báo cáo đưa vào 2 nguồn lợi ích, 1 là
doanh thu của cảng hàng không, 2 là lợi ích có được từ chi tiêu của người nước
ngoài đến du lịch và lưu trú ở Việt Nam.
Về nguồn lợi ích thứ hai: Báo cáo lý luận rằng,
nhờ có sân bay Long Thành nên Việt Nam mỗi năm thêm được hàng triệu du khách nước
ngoài, mỗi người ở lại Việt nam bình quân 5 ngày, mỗi ngày chi tiêu 145USD. Từ
giả thiết này Báo cáo tính ra, bình quân mỗi năm sân bay Long Thành mang lại lợi
ích 2,2 tỷ USD/năm (trang 52)
Xin hỏi: tại sao 100% tiền chi tiêu của du
khách nước ngoài ở Việt Nam lại là lợi ích của Việt Nam, của sân bay Long
Thành? Thực ra lợi ích của Việt Nam chỉ là phần lợi nhuận của Việt Nam trong
toàn bộ chi tiêu của khách du lịch, cao nhất cũng chỉ khoảng 30% mà thôi, sao
Báo cáo lại tính 100%. Vì vậy lợi ích mà Việt nam thu được chỉ khoảng 2,2 tỷ
USD x 30% = 660 triệu USD. Không hiểu sao Báo cáo lại phóng đại lên 2,2 tỷ USD,
con số lợi ích khống được Báo cáo
đưa vào là 2,2 tỷ - 660 triệu = 1,54 tỷ =1540 triệu USD/năm
2.
Về
chi phí:
Báo cáo đưa ra 3 nguồn chi phí: 1 là chi phí đầu tư dự án, 2 là chi phí bảo trì và hoạt động khai thác kinh doanh, 3 là chi phí đi lại tăng lên do sân bay Long Thành xa trung tâm thành phố 45km.
Về nguồn chi phí thứ nhất: Báo cáo quên tính đến tiền hoàn trả vốn vay và tiền lãi hàng năm. Cho dù vốn ODA với lãi suất thấp và thời gian ân hạn lớn, nhưng khi tính EIRR vẫn phải đưa vào. Hơn nữa phần đầu tư của tư nhân, chủ đầu tư vẫn phải vay vốn, trả vốn và trả lãi.
Về nguồn chi phí thứ hai: Báo cáo lấy đơn giá chi phí tại sân bay Tân Sơn Nhất để tính. Đó là 1 sai lầm lớn, bởi vì đơn giá chi phí thực tế của Long Thành sẽ lớn hơn của Tân Sơn Nhất, ít nhất là vì Long Thành phải chi khoản khấu hao tài sản cố định, trong khi Tân Sơn Nhất không phải chi khoản này, Tân Sơn Nhất đã làm việc 85 năm nay, đã khấu hao hết tài sản cố định từ lâu. Sai lầm này xuất phát từ chỗ không đưa yếu tố “Thời gian hoàn vốn” vào tính toán EIRR
Về nguồn chi phí thứ ba: Báo cáo lý luận rằng
do Long Thành cách trung tâm thành phố Hồ Chí minh 45 km, hành khách và cán bộ
công nhân viên phải đi lại xa hơn, nếu so sánh với Tân Sơn Nhất chỉ 7km, từ đó
chi phí đi lại sẽ tăng lên. Nhưng tác giả Báo cáo có một cái sai rất lớn, là chỉ
tính đến chi phí thời gian của người
đi lại, mà không tính đến toàn bộ chi
phí đi lại.
Theo báo cáo, đến năm 2025 số lượng hành khách là 25 triệu, sẽ có 25 triệu lượt người đi lại trên đường Sài Gòn – SB Long Thành. Báo cáo còn nói, bình quân mỗi hành khách có 1,7 người đi đón hoặc đi tiễn, số người đón – tiễn là 25 triệu x 1,7 = 42,5 triệu người, số người này chịu 2 lượt đi và về, số lượt sẽ là 42,5 triệu x 2 = 85 triệu lượt/năm. Theo Báo cáo, tổng số nhân viên của sân bay sẽ là 25.000 người, bình quân đi lại 10 lần mỗi tuần, tính ra số lượt đi lại của nhân viên: 25.000 người x 10 lần/tuần x 52 tuần/năm = 13 triệu lượt/năm. Như vậy tổng số lượt đi lại mỗi năm là: 25 triệu + 85 triệu +13 triệu = 123 triệu lượt.
Báo cáo cho rằng thời gian đi đến Long Thành nhiều hơn thời gian đến Tân Sơn Nhất 15 phút, chi phí thời gian trung bình của người Việt Nam là 2,63 USD/giờ. Tính ra chi phí thời gian cho 1 lượt đi là 2,63 USD x 15 phút/ 60 phút = 0,6575 USD. Như vậy tổng chi phí này là: 123 tiệu lượt x (0,6575 USD /lượt) = 80,8 triệu USD. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều là Báo cáo quên tính chi phí phương tiện đi lại. Chi phí cho phương tiện đi lại có rất nhiều loại giá, ở đây chỉ tạm tính loại giá rẻ nhất , là vé xe đò. Xe đò ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh có giá bình quân khoảng 1000 đồng/km.Phí phương tiện (xe đò) đến sân bay Long Thành 45 km x 1000 đồng/km = 45.000 đồng/lượt, tương đương 2,12 USD/lượt. Báo cáo đã quên khoản này, nghĩa là Báo cáo đã giảm khống chi phí đi lại với số tiền là: (123 triệu lượt/năm) x (2,12 USD/lượt) = 260 triệu USD/năm!.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng
khi tính EIRR, các tác giả đã cố ý
nâng cao dòng tiền lợi ích lên, và cố ý giảm dòng tiền chi phí xuống. Chỉ riêng lợi ích từ du khách chi tiêu ở Việt Nam, đã nâng khống 1540 triệu USD/năm, và chi phí đi lại đã giảm khống 260 triệu USD/năm, tương đương dòng tiền chung bị nâng khống lên 1540 triệu + 660 triệu =2.200 triệu USD/năm . Kết quả là EIRR của tác giả leo lên 22,1%.
Chúng tôi cho rằng nếu được tính toán nghiêm túc và trung thực, thì EIRR của công trình này chắc chắn dưới 10%, và có thể ước đoán chỉ vài ba % mà thôi.
No comments:
Post a Comment