Một trong những phương pháp tìm hiểu Lịch sử một Dân tộc là căn cứ ngôn ngữ.
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phỏng đoán tình hình Chính trị Kinh tế Xã hội của nước Việt Nam ta trước thời Bắc thuộc.
Tiếng Việt ngày nay có khoảng trên dưới
75% là tiếng Hán, được người Việt Nam chúng ta đọc theo âm Hán việt. Những từ
ngữ này hầu hết thuộc phạm vi các khái niệm về Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội,
được hình thành từ khi người Hán xâm lược Việt Nam, mà trước đó trong tiếng Việt
chưa có.
Hơn nữa, khi xã hội loài người phát triển, nhiều khái niệm mới về mọi lĩnh vực mới xuất hiện, thì người Việt lại có thói quen dùng từ ngữ Hán, kể cả tiếng châu Âu dịch ra tiếng Hán. Những từ thuần Việt chiếm khoảng 25% là những từ hoàn toàn gốc Việt, chắc chắn dân tộc ta đã sử dụng trước khi người Hán đô hộ Việt Nam.
Căn cứ vào những từ thuần Việt này,
chúng ta có thể hình dung xã hội Việt Nam trước thời Bắc thuộc.
Một ví dụ điển hình, là có thể xác định
hệ thống tổ chức chính quyền của người Việt trước thời Bắc thuộc:
Về các cấp hành chính, trong tiếng
thuần Việt còn tồn tại các chữ: chòm,
xóm, làng, kẻ, nước. Còn tiếng Hán được du nhập sau này có: thôn, xã, tổng,huyện, tỉnh, quốc, trong
đó chữ “thôn” gần như tương ứng với chữ “làng” của tiếng Việt.
Điều này có thể minh chứng: trước Bắc
thuộc, hệ thống tổ chức chính quyền của người Việt đã khá chặt chẽ, trong đó
đơn vị nhỏ nhất là chòm xóm, theo cách hiểu hiện nay là khoảng 30 gia đình,
làng khoảng 5 đến 8 xóm, kẻ khoảng 3 đến 10 làng, không có cấp huyện, không có
cấp tỉnh. Như vậy cũng có nghĩa là cấp kẻ phụ thuộc trực tiếp vào cấp nước.
Cũng có thể phỏng đoán rằng thời đó các mối quan hệ giao lưu liên lạc thường nhỏ hẹp, phụ thuộc hoàn toàn với khả năng giao thông liên lạc, mà thời đó chủ yếu người ta chỉ đi bộ, cho nên đơn vị hành chính đến cấp kẻ là tối đa, còn cao hơn là không cần thiết.
Về chức danh của những người đứng đầu
các cấp, trong tiếng thuần Việt có hai từ “trùm” và “vua”. Các vị đứng đầu của
chòm, xóm, làng, kẻ có chức danh là “trùm”, còn người đứng đầu nước là “vua”.
Khác với trong tiếng Hán Việt sau này thôn trưởng, lý trưởng, Chánh tổng, tri
huyện, tỉnh trưởng (tổng đốc, bố chánh),vương, hoàng đế.
No comments:
Post a Comment