I. Tiết kiệm điện năng
Tiết kiệm điện trong chiếu sáng không phải là cắt điện, tắt đèn, mà thực chất là phải giảm tiêu thụ điện trong khi vẫn phải giữ đầy đủ độ chiếu sáng cần thiết.
Sử dụng một số loại bóng đèn theo công nghệ mới sẽ đáp ứng được yêu cầu chất lượng, hiệu suất cao, tiết kiệm điện, bảo vệ môi trường, như: Đèn HQ compact; Đèn HQ T8, T5; Chấn lưu điện tử EBD; Chấn lưu sắt từ tổn hao thấp, thay thế các bóng đèn sợi đốt bằng đèn compact hoặc bóng đèn neon T8, ballast điện từ;... thực tế đã mang lại hiệu quả tiết kiệm điện năng tại các trường học, hộ gia đình, khách sạn, công trình chiếu sáng công cộng.
Tại các xí nghiệp công nghiệp, các phòng, ban, phân xưởng thường xuyên nhắc nhở nhân viên nâng cao ý thức tiết kiệm điện, tắt các thiết bị chiếu sáng ở những nơi không cần thiết; Phân công người chuyên trách quản lý thiết bị điện, thường xuyên bảo dưỡng và kiểm tra, lau chùi và thay thế hệ thống chiếu sáng khi cần thiết; Một số phân xưởng có trần cao, lắp đặt đèn cao áp. Một số phân xưởng có trần thấp, đèn chiếu sáng được hạ thấp xuống. Bóng đèn có chao chụp được sơn màu sáng để tăng độ rọi sáng, đảm bảo đủ độ sáng cho công nhân làm việc. Cứ cách 4 bóng đèn có một bóng đèn sạc được sử dụng trong trường hợp mất điện đột xuất. Thiết kế nhiều dãy đèn, mỗi dãy đèn có một Cầu dao riêng để cung cấp điện chiếu sáng tại khu vực sản xuấtnhỏ; tránh dùng một Cầu dao chung cho nhiều bóng đèn.
Chiếu sáng công cộng: trên các đường phố hoặc các con đường nội bộ của cơ quan, Doanh nghiệp có thể tiết giảm giờ chiếu sáng, tắt xen kẽ 50% số bóng đèn, thay các loại bóng đèn công nghệ mới tiết kiệm điện.
Hướng mới trong tiết kiệm chiếu sáng là sử dụng công nghệ đèn LED và đèn công nghệ HID (high intensity discharge-Phóng điện cường độ cao).
Đèn LED có tuổi thọ 100.000 giờ, tăng số giờ chiếu sáng tới 10 lần
so với đèn compact. Mỗi bóng LED công xuất 1W đạt độ phát sáng trên 75lm/W và
có khả năng tự động điều tiết độ chiếu sáng theo thời gian và nhu cầu trong
ngày.
Đèn HID không những tiết kiệm năng lượng mà còn cho năng suất chiếu sáng cao
2 Điều
hòa nhiệt độ
Một số điều tra cho thấy, hiện nay ở nước ta điện năng sử dụng để chạy Máy điều hòa là rất lớn, chiếm 20% tổng tiêu thụ điện năng cả nước.
Trong khi đó, người sử dụng chưa nhận thức được, điều chỉnh cho nhiệt độ căn phòng càng thấp thì điện năng tiêu thụ càng nhiều. Thường thì nhiệt độ căn phòng 24-250C là đã đủ lạnh, nhưng đa số người sử dụng Máy điều hòa ở Việt Nam lại điều chỉnh nhiệt độ xuống 16 – 180C, gây ra lãng phí rất lớn.
Do đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến cáo người tiêu dùng sử dụng điều hòa ở nhiệt độ thích đáng. Nhất là, các cơ quan , xí nghiệp nên có những quy định chế tài nội bộ cho việc này.
3. Máy
móc thiết bị công nghiệp
Các doanh nghiệp giảm nhập khẩu các công nghệ, thiết bị lỗi thời, tiêu hao nguyên, nhiên liệu lớn. Hiện nay nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể chỉ quan tâm tới nhập khẩu được thiết bị rẻ mà không quan tâm tới việc thiết bị tiêu hao nhiều năng lượng, công nghệ lạc hậu không đảm bảo vệ sinh môi trường…
Nên mua sắm động cơ có lắp sẵn biến tần, hay khởi động mềm, để tăng hiệu quả sản xuất và tiết kiệm điện. Biến tần và khởi động mềm là những thiết bị tiên tiến trên thế giới, nhưng còn khá xa lạ với các đơn vị sản xuất trong nước. Các thiết bị này sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt, giúp công nhân có thể điều khiển được tốc độ của động cơ, các phần cơ khí hoạt động êm hơn, chi phí bảo dưỡng động cơ ít hơn, không gây sụt áp đột ngột khi khởi động và giảm tổn hao công suất ban đầu khi vận hành. Thực tế đã chứng minh, sử dụng biến tần điều khiển động cơ bơm quạt tiết kiệm điện năng trung bình 12 - 30%.
II. Nhiệt năng
1. Tái
sử dụng nhiệt năng trong công nghiệp
Nhờ
việc sử dụng kỹ thuật thu hồi nhiệt từ khí thải và nước thải để sử dụng trở
lại, hiệu suất sử dụng nhiệt năng của các dây chuyền công nghiệp có thể đạt tới
trên 90%, điều mà cuối thế kỷ 20 rất ít người coi là hiện thực.
Các nhà
máy nhiệt điện, luyện kim, xi măng, hóa chất, gạch, gốm sứ, dệt, nhuộm, ép
nhựa, chế biến thực phẩm, đường, cà phê, chè... đều có các lò đốt sử dụng than,
dầu, gas hoặc điện để tạo ra nhiệt độ cao. Lượng nhiên liệu cung cấp nhiệt năng
hữu ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nhiên liệu bị đốt cháy, gây
lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và khí quyển trái
đất, tính bình quân lượng nhiên liệu này thường chỉ chiếm từ 5% tới 30%. Hầu
hết phần nhiệt năng còn lại đi theo khí thải, nước thải hoặc nước làm nguội
máy... và thoát ra môi trường. Khi cải thiện các quá trình đốt và ứng dụng
triẹt để các biện pháp thu hồi nhiệt, lượng CO2 và SO2
cùng các chất khí độc hại do công nghiệp sinh ra có thể giảm từ 50% tới 80%, hiện
tượng nhiệt độ trái đất nóng lên và các hiện tượng thay đổi khí hậu khác cũng
có thể được hạn chế đáng kể.
Quá
trình tái sử dụng nhiệt thải gồm nhiều công đoạn kỹ thuật khác nhau, công đoạn
chính là việc thu hồi nhiệt. Nhiệt năng thải ra được chuyển tới một quá trình
khác, trực tiếp hoặc qua một phương tiện trung gian. Có rất nhiều dạng trao đổi
nhiệt với các phương tiện trung gian khác nhau và áp dụng cho các trường hợp sử
dụng khác nhau. Thông thường nhiệt năng thu hồi sẽ được sử dụng ngay ở gần đó,
dòng khí thải sẽ làm nóng không gian và sấy nóng không khí cung cấp cho sự
cháy.
Theo
cách này nhiệt năng được truyền từ khí thải hoặc nước thải đến không khí sạch
hoặc nước sạch trong một buồng trao đổi nhiệt. Không khí sạch được sấy nóng sẽ
chuyển qua một công đoạn sản xuất khác có yêu cầu nhiệt độ thấp hơn, hoặc bơm
vào lò để tham gia đốt cháy nhiên liệu, làm cho quá trình đốt cháy nhanh hơn,
triệt để hơn và tốn ít nhiên liệu hơn. Nước sạch sau khi được làm nóng cũng sẽ
chuyển sang một công đoạn sản xuất cần nước nóng khác hoặc được bơm vào nồi
hơi.
Với
những quá trình công nghệ không liên tục, thải nhiệt và tái sử dụng nhiệt không
thể thực hiện đồng thời, nhiệt lượng thu hồi cần đưa vào những ngăn giữ nhiệt
hoặc những thiết bị trao đổi nhiệt.
Tái sử
dụng nhiệt năng không chỉ giảm bớt nhiên liệu đưa vào ban đầu, mà còn giảm bớt
chi phí đầu tư cho các lò đốt và hệ thống ống khói, tháp lạnh... Các dây chuyền
công nghiệp xây dựng thơi gian gần đây thường gắn bó với hệ thống thiết bị tái
sử dụng nhiệt, hoạt động đồng bộ với hệ thống đốt nhiên liệu, nồi hơi và dàn
khí thải, nước thải. Phần giảm thiểu chi phí đầu tư do thu nhỏ lò đốt, thu nhỏ
các ống khói, ống thoát khí thải... thường lớn hơn toàn bộ chi phí đầu tư cho
hệ thống tái sử dụng nhiệt.
Tái sử
dụng nhiệt năng đã được áp dụng từ những năm giữa thế kỷ 20. Ban đầu hiệu quả
thu hồi nhiệt còn rất thấp, giá nhiên liệu chưa cao và giá thành thiết bị rất
cao, nên ít được áp dụng. Gần đây, công nghệ sản xuất vật liệu và chế tạo thiết
bị thu hồi nhiệt đã đạt được những tiến bộ đáng kể, trong khi tương quan giữa
giá nhiên liệu và giá thiết bị đã thay đổi rất nhiều, lợi ích của thiết bị thu
hồi nhiệt được minh chứng rất rõ rang và đầy thuyết phục.
Một ví
dụ điển hình: Nhà máy cán nhựa Laufenberg, Cộng hòa Liên bang Đức, hàng năm
tiêu thụ 2 triệu Euro khí đốt. Khi lắp đặt 3 hệ thống thiết bị tái sử dụng
nhiệt với tổng chi phí 150 ngàn Euro, đã hạ mức tiêu thụ nhiên liệu xuống còn
1/3, tiết kiệm mỗi năm khoảng 1,3 triệu Euro.
2. Thiết
bị chống cáu cặn bằng phương pháp siêu âm USP (ultrasonic scale preventer).
Các chuyên gia ngành nhiệt đã xác định rằng: Khi độ dày của lớp cáu
cặn là 1mm thì lò hơi tiêu nhiên liệu nhiều hơn định mức từ 2 đến 3%.
Người ta đã chứng minh được rằng sóng siêu âm có tác dụng phá cáu
cặn đã bám, hoặc không cho cáu cặn bám mới lên thành ống nước, ống lửa, thành
lò hơi.
Như vậy khi sử dụng siêu âm, toàn bộ thiết bị lò hơi sẽ không có
cáu cặn. Lợi ích to lớn thu được là, thứ nhất, tiết kiệm được nhiên liệu, thứ
hai, không phải dùng hóa chất để xử lý nồi hơi, tiết kiệm chi phí và góp phần
bảo vệ môi trường.
Thiết bị USP bao gồm bộ nguồn phát dao động điện tần số 22 KHz, các
dao động điện được truyền đến các đầu biến đổi để chuyển thành sóng siêu âm.
Các đầu biến đổi được hàn trực tiếp lên thành lò hơi.
Một ví dụ: Lò hơi 6 tấn hơi, hàng tháng đốt khoảng 180.000 lít dầu,
tiền hóa chất vệ sinh hàng tháng khoảng 6-7 triệu đồng.Dù sử dụng hóa chất
nhưng không thể phá hoàn toàn lớp cáu cặn, vẫn còn khoảng 1-1.5 mm, như vậy vẫn
lãng phí khoảng 3-4% nhiên liệu, tương đương 5400 lít dầu, khoảng 20 triệu
đồng. Khi đầu tư và sử dụng thiết bị siêu âm, hàng tháng sẽ tiết kiệm được 6
triệu +20 triệu = 26 triệu đồng, trong khi đầu tư cho thiết bị này chỉ tốn
khoảng 120 triệu đồng. Như vậy sẽ thu hồi vốn sau chưa đầy 5 tháng.
3. Nhũ
tương mazút và nước
Thêm vào dầu đốt 15-20% nước và trộn đồng nhất để tạo nhũ tương
mazút nước.
Các nước châu Âu, đặc biệt là Nga, Đức, Canada, Mỹ… đã bắt đầu sử
dụng khoảng 30 năm trước, nhưng việc tạo nhũ tương trước đây chưa tốt, do thiết
bị tạo nhũ tương chưa hoàn thiện.
Cách đây khoảng 4-5 năm các chuyên gia chế tạo nhiên liệu động cơ
tên lửa của Nga đã chế tạo thành công thiết bị trộn đồng nhất bằng phương pháp
siêu âm, có thể tán mịn chất lỏng hoặc nhiên liệu xuống còn khoảng 1-5mc, và
trộn đồng nhất nó, tạo ra nhũ tương có tính ổn định không dưới 1 năm. Các lợi
thế của thiết bị này:
- Đốt nhũ tương này tiết kiệm từ 11-18% dầu FO.
- Giảm lượng CO, NOx,
SOx trong khí thải xuống 60-80%.
Nếu xí nghiệp hàng tháng dùng khoảng 400-500.000 lít dầu thì sẽ
tiết kiệm được 40-50.000 lít dầu, tương đương với 160-200 triệu đồng, trong khi
giá thiết bị chỉ khoảng 1 tỷ đồng, như vậy có thể thu hồi vốn đầu tư trong vòng
5-6 tháng.
III. Vai trò của các Đơn vị
Tư vấn TKNL
1. Để thực thi một dự án TKNL cho một Doanh
nghiệp, cần có sự phối hợp của 3 đối tác, đó là:
- Bản thân Doanh nghiệp,
là bên đầu tư Dự án và thụ hưởng lợi nhuận.
- Cơ quan tài trợ: là
những Nhà tài trợ cho các Dự án của các Doanh nghiệp về TKNL và sản xuất sạch.
- Đơn vị tư vấn TKNL: làm tư vấn cho Doanh nghiệp: xây dựng Dự
án , thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán, tư vấn mua sắm thiết bị, lắp đặt
thiết bị, chuyển giao công nghệ, và giúp Doanh nghiệp thực hiện các thủ tục với
Cơ quan tài trợ.
|
TT |
Tên Chương trình, |
Cơ quan |
Vốn tài trợ |
Cơ quan |
Mức tài trợ % |
|
01 |
Chương
trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả |
Chính
Phủ Việt Nam |
Phê
duyệt hàng năm |
Ban
chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng Năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả |
20%
đến 40% |
|
02 |
Dự án sử dụng năng lượng hiệu quả và quản lý phía
nhu cầu Việt Nam |
Ngân hàng thế giới WB |
19,44 triệu USD |
Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN |
|
|
03 |
Dự
án “Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa” của Việt Nam |
Quỹ môi trường toàn
cầu (GEF), thông qua Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) |
29,23 triệu USD |
Bộ Khoa học và công nghệ |
|
|
04 |
Chương
trình tiết kiệm Năng lượng thương mại thí điểm CEEP, thuộc Dự án Quản lý tiết
kiệm năng lượng thí điểm DSM/EE |
Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), thông qua Ngân
hàng thế giớI WB |
3,25 triệu USD |
Cục điều tiết điện lực- Bộ Công Thương |
20% đến 40% |
|
05 |
Dự án hỗ trợ các chương trình Biogas cho ngành
chăn nuôi tại các tỉnh được lựa chọn ở Việt Nam |
Chính Phủ Hà Lan |
2 triệu USD |
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn |
|
|
06 |
Chương trình phát triển năng lượng tái tạo |
Cơ quan hợp tác quốc tế Thụy Điển (SIDA) và Ngân
hàng thế giới |
4,5 triệu USD |
Bộ Công Thương |
|
3. Ở Việt Nam và ở Tp. Hồ Chí Minh đã có một số Đơn vị tư vấn TKNL, Viện Điện – Điện tử - Tin học EEI là Đơn vị tư vấn TKNL có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này.
Từ những năm 70
của thế kỷ 20, khi bắt đầu có một số Chương trình, Đề tài về tiết kiệm Năng
lượng và Sản xuất sạch, nhiều chuyên gia của Viện EEI đã tham gia nghiên cứu,
đào tạo, kiểm toán năng lượng, và thực thi những Chương trình, Dự án.
Những năm sau 1992,
khi các Tổ chức Quốc tế phối hợp và giúp đỡ Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam
đẩy mạnh công tác Tiết kiệm Năng lượng và Sản xuất sạch, các Thành Viên của
Viện đã tích cực tham gia và đã đóng góp rất nhiều công sức.
Những năm gần đây, nhất là sau Nghị định 102, các Thành Viên của Viện tiếp tục tích cực nghiên cứu và tham gia trực tiếp vào các Đề tài liên quan đến Tiết kiệm Năng lượng và Sản xuất sạch.
Viện EEI đã đặt việc nghiên cứu Tiết kiệm Năng lượng và Sản xuất sạch là một trong những trọng tâm hoạt động của mình. Viện đã xây dựng “Chương trình Tiết kiệm năng lượng 4 bước cho các Doanh nghiệp”, phối hợp với một số Doanh nghiệp thực thi Chương trình này, như Công ty may Nhà Bè Thành phố Hồ Chí Minh (là cơ sở may lớn có hơn 10.000 công nhân sử dụng hàng nghìn động cơ, thiết bị điện…), như Công ty Xe Lửa Dĩ An thuộc Tổng Công ty Đường Sắt Việt Nam, Công ty may Thái Tuấn, Công ty Moutech, đầu tư nước ngoài của Đức ….
Những hoạt động chính hiện nay của Viện:
1. Tư vấn về tiết kiệm năng lượng cho các Doanh nghiệp.
2. Tổ chức đào tạo về tiết kiệm năng lượng và An toàn Điện cho các
Doanh nghiệp.
3.
Phối hợp với các Hôi, Hiệp Hội,
các Đơn vị tư vấn TKNL và các cơ quan chức năng để tổ chức những Hội thảo về
Tiết kiệm Năng lượng và Sản xuất sạch cho các Doanh nghiẹp, các Nhóm đối tượng.
4. Nghiên cứu chế tạo và xây dựng công nghệ sản xuất thiết bị và hệ thống điều khiển cơ điện ở chế độ Tiết kiệm Năng lượng.
Với đội ngũ 128 Nhà Khoa học, thuộc
các lĩnh vực Điện - Năng lượng, Điện tử - Viễn thông, Tin Học, Tự động hóa, Cơ
khí, Xây dựng, Môi Trường, Kinh tế và Luật, trong đó có 19 GS-TS và
PGS-TS, 43 Tiến Sĩ, 18 Thạc
Sĩ, và 47 Kỹ Sư, Cử Nhân, có những Nhà Khoa học có tiếng ở TP. Hồ Chí
Minh và cả nước, Viện luôn luôn nỗ lực phục vụ cho các Doanh nghiệp trên lĩnh vực
Tiết kiệm Năng lượng và Sản xuất sạch.
No comments:
Post a Comment