30 November 2007

Viện tư nhân vẫn bị kỳ thị

NĂM 2007 THÁNG 11 NGÀY 30
TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC
BLOG HỘI HASCON VÀ VIỆN EEI
 
VIỆN TƯ NHÂN VẪN BỊ KỲ THỊ

TS. Nguyễn Bách Phúc,
Viện trưởng Viện Điện – Điện tử - Tin học,
Chủ tịch hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và quản lý TP. HCM

Trả lời phỏng vấn của Tạp chí Hoạt động Khoa học
Cơ quan ngôn luận, lý luận của Bộ Khoa học và Công nghệ
Tạp chí ra đời từ năm 1956.

Câu 1: Xin ông giới thiệu khái quát về viện Điện - Điện tử - Tin học, đặc biệt là những thế mạnh của Viện?

Viện Điện – Điện Tử - Tin Học EEI được UBND Tp Hồ Chí Minh cho phép thành lập, được Sở KHCN Tp Hồ Chí Minh cấp Giấy phép hoạt động, là Viện Tư nhân, do 32 nhà khoa học sáng lập từ đầu năm 2004. Đến nay Viện đã quy tụ được 120 Nhà Khoa học, gồm 14 GS-TS và PGS-TS, 46 Tiến sĩ, 18 Thạc sĩ và 38 Kỹ sư, Cử nhân.

 Bốn nghề chuyên môn của Viện là Điện – Năng lượng, Điện tử - Viễn thông, Công nghệ thông tin,  Tự động hóa. Bốn lĩnh vực hoạt động của Viện là: Nghiên cứu Khoa học – Chuyển giao Công nghệ, Tư vấn - Thiết kế - Thẩm định – Phản biện, Đào tạo nâng cao trình độ chuyên gia, Thông tin khoa học công nghệ. Ngòai ra Viện còn hoạt động trong lĩnh vực Tiết kiệm Năng lượng và Sản xuất sạch.

Theo Website Tp Hồ Chí Minh, Website Chợ tư vấn của Sở KHCN Tp Hồ Chí Minh thì hiện nay trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh có 74 Viện và Phân viện của Trung ương và của Thành phố. Nếu lấy tổng số GS-TS, PGS-TS và Tiến sĩ của các Viện làm chỉ tiêu so sánh, thì Viện EEI có số lượng nhiều nhất, là 60 Vị, thứ nhì là Viện Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực của Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh có 40 Vị.

Trong gần 4 năm qua, Viện EEI đã và đang thực hiện gần 100 Hợp đồng, trong đó có 22 Hợp đồng Nghiên cứu Khoa học và chuyển giao Công nghệ, 48 Hợp đồng Tư vấn Thiết kế, Thẩm định, 18 Hợp đồng Đào tạo nâng cao trình độ chuyên gia, và nhiều công việc thuộc lĩnh vực Tiết kiệm năng lượng và Sản xuất sạch, tổ chức được một số Hội thảo, Triển lãm. Khách hàng của Viện là các Cơ quan Nhà nước, các Doanh nghiệp, các Trường Đại học, trong đó có UBND tỉnh ĐắkNông, UBND tỉnh Đăklắc, Tỉnh ủy tỉnh ĐăkNông, và UBND tỉnh Tây Ninh, Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Công an tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Cục Hàng Hải Việt Nam, Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, Kho Bạc nhà nước Tp Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, Đài tiếng nói nhân dân Tp Hồ Chí Minh, Xí nghiệp Liên doanh khai thác dầu khí VietSovpetro, Công ty Điện lực 2, Công ty Điện lực Tp Hồ Chí Minh, Công ty Điện lực Đồng Nai, Công ty Dược phẩm OPV Biên Hòa, Trung tâm Điện toán và truyền số liệu khu vực 2, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Công ty cho thuê tài chính 2, Trung tâm thông tin Di động khu vực 2, Khu Công nghiệp Long Bình, Công ty Xe lửa Dĩ An, Xí nghiệp Đầu máy Sài Gòn, Công ty KWAN tại Việt Nam …, và các trường Đại học: Đại học Quốc gia  Tp Hồ Chí Minh , Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Đại học Sài Gòn, Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

     Ngoài ra Viện đã có những hợp tác đào tạo Quốc tế có hiệu quả như hợp tác đào  tạo Tiến sĩ với Viện Hàn lâm IASS của Liên Bang Nga, và với một số trường Đại học của Trung Quốc và Singapore.

     Thế mạnh của Viện là đã quy tụ được số lượng lớn các Nhà khoa học, trong đó có những nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam và của Tp Hồ Chí Minh thuộc 4 nghề chuyên môn của Viện. Bên cạnh các Nhà khoa học hàng đầu ở tuổi nghỉ hưu nhưng tự nguyện đứng trong hàng ngũ Viện để dẫn dắt thế hệ sau, là đội ngũ các Nhà Khoa học trẻ đầy nhiệt huyết, năng động và sáng tạo.Thế mạnh thứ 2 của Viện là có pháp nhân đầy đủ, hạch toán độc lập, có quyền ký Hợp đồng kinh tế với các đối tác Việt Nam và nước ngoài. Thế mạnh thứ ba của Viện là có Chi bộ Đảng vững mạnh, lãnh đạo Viện đi đúng đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà Nước, dẫn dắt các Thành viên đoàn kết thành một khối, tập trung ý chí và sức mạnh thực hiện mục tiêu chung.

Khi nói đến thế mạnh, cũng không nên quên nhắc đến thế yếu. Thế yếu thứ nhất của Viện là cơ sở vật chất còn nhỏ bé, chưa tương xứng với đội ngũ Khoa học hàng đầu. Thế yếu thứ hai là sự cư xử thiếu công bằng của một bộ phận xã hội đối với Viện tư nhân, coi Viện Tư Nhân là thấp kém hơn Viện Nhà Nước 

Câu 2: Ngày ông bắt tay vào xây dựng Viện Điện - Điện tử - Tin học (cũng là viện nghiên cứu tư nhân đầu tiên ở Việt Nam) ông đã gặp những khó khăn lớn nào? Ông và các đồng nghiệp đã làm cách nào để vượt qua? 

Trước tiên, thật tình tôi không biết chính xác Viện  EEI  chúng tôi có là Viện Tư nhân đầu tiên ở Việt Nam hay không. Ở TpHCM, theo Website của Thành phố và theo cuốn “Tiềm lực và vai trò khoa học công nghệ Việt Nam” của Liên hiệp các Hội Khoa học  và Kỹ thuật Việt nam và Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003,  thì trước khi Viện EEI ra đời, chưa có Viện nghiên cứu Tư nhân nào.

Chuẩn bị cho việc ra đời của Viện EEI, chúng tôi đã đụng độ nhiều vấn đề nan giải. Cái khó đầu tiên là niềm tin vào triển vọng tồn tại và phát triển của Viện: Cuối năm 2003 là tròn 10 năm hiệu lực của Nghị định 35 cho phép các tổ chức Khoa học công nghệ tư nhân hoạt động. Đã có hàng trăm các Trung tâm khoa học công nghệ được thành lập, nhưng kết quả cuối cùng là phần lớn các Trung tâm đó đã không còn sức hoạt động. Vậy thì số phận của EEI sẽ ra sao? Có nên thành lập hay không? Vấn đề này đã được Hội nghị thành lập Viện ngày 16/11/2003 đưa ra mổ xẻ, phân tích thế mạnh thế yếu, khó khăn thuận lợi, triển vọng và rủi ro. Cuối cùng cả 32 nhà khoa học tham gia Hội nghị đã xác định niềm tin và nhất trí hạ bút ký vào Hồ sơ xin thành lập Viện gởi lên UBND TP.Cái khó thứ hai là vốn liếng: các nhà khoa học thì nghèo, đầu tư ban đầu dù rất khiêm nhường cũng tốn trên 2 tỷ đồng. Đi vay thì sợ: liệu việc làm ăn sẽ ra sao? Có thể trả nợ được không? Cuối cùng chúng tôi cùng nhau góp vốn, chấp nhận thử thách. Cái khó thứ ba là cái khó riêng của các nhà khoa học: Tất cả các Thành viên của Viện vốn chỉ hoạt động Khoa học và Giáo dục, có một số Thành viên đã từng tham gia công tác lãnh đạo các Đơn vị nhưng là những Đơn vị Khoa học, Giáo dục, chưa ai từng làm kinh tế, chưa ai từng dìu dắt, lèo lái một đơn vị hạch toán độc lập, lo toan đồng tiền bát gạo, lo toan tìm kiếm và ký kết hợp đồng, chưa từng đụng chạm đến những khía cạnh luật pháp, thuế má trong làm ăn. Lúc này các nhà khoa học, nhất là những nhà lãnh đạo phải học hỏi, phải dấn thân, phải chấp nhận kể cả vấp ngã nếu có. Riêng cá nhân tôi, nguyên là giảng viên của Trường ĐHBK TPHCM, khoa Điện - Điện tử, lại sinh ra trên đất Nghệ Tĩnh, tôi từng nói vui rằng mình là “Ông Đồ Nghệ” chính hiệu, chính gốc. Bây giờ “ông Đồ Nghệ” phải đóng vai “Doanh nhân”, khó khăn biết bao! 

Câu 3: Ông nhận xét thế nào về các Viện nghiên cứu tư nhân do các nhà khoa học "tự làm, tự chịu trách nhiệm" ở Việt Nam hiện nay? 

     Tôi không biết hiện nay có bao nhiêu Viện nghiên cứu tư nhân ở Việt Nam và  cũng không có cơ hội tìm hiểu rõ về các Viện đó. Theo báo chí thì ở Hà Nội có một Viện nghiên cứu Tư nhân về Nông nghiệp, làm việc rất có hiệu quả, có nhiều thành tích lớn, nhưng rất tiếc là tôi chưa có dịp giao tiếp với họ. Ở TPHCM, ra đời sau Viện EEI khoảng 1 năm (cuối năm 2004) là Viện Công nghệ cao NTT (Nguyễn Tất Thành) với 15 nhà khoa học, nghe nói Viện này đến nay chưa có hoạt động cụ thể. Một năm trước, tháng 10/2006 Liên Hiệp Hội KHKT VN đã thành lập Viện Khoa học Công nghệ Phương Nam, trụ sở ở TP HCM, bước đầu có 9 nhà khoa học tham gia, nghe nói Viện này đã bắt đầu có những hoạt động có hiệu quả.

Ngoài ra theo trang Web của TPHCM và trang Web Chợ tư vấn của Sở Khoa học Công nghệ TPHCM, ở TPHCM hiện có gần 10 Viện không phải của Nhà nước, những Viện này có tên đăng ký là Viện, nhưng không làm công tác Ngiên cứu Khoa học, chuyển giao Công nghệ mà chỉ thực hiện các khóa đào tạo về Quản trị kinh doanh. 

Câu 4: Theo ông, để tạo điều kiện cho các viện này phát huy tốt hơn tiềm năng chất xám, nhà nước cần có chính sách như thế nào? và bản thân các nhà khoa học của các viện này nên tạo cho mình thêm tố chất nào? (hoặc nên làm gì?). 

     Tôi chân thành nhận thức rằng Chính sách của nhà nước ta đối với Khoa học Công nghệ và các nhà khoa học nói chung, đối với các Viện tư nhân nói riêng là rất tốt. Luật KHCN, các Nghị định của Chính phủ, các Quyết định của Bộ KHCN, các Quyết định của UBND TP.HCM và Sở KHCN TP.HCM là rất rộng mở, thể hiện đầy đủ đường lối không phân biệt các thành phần kinh tế, nghĩa là không phân biệt “ Tư nhân” với “ Nhà nước”, không phân biệt “ Tư doanh” với “ Quốc doanh”. Theo các văn bản luật này, Viện tư nhân của chúng tôi với Viện nhà nước hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau. Vậy thì chúng tôi còn mong muốn đòi hỏi gì hơn.

     Thế nhưng thực tiễn cuộc sống lại là muôn hình muôn vẻ.

     Tôi đã phát biểu ở nhiều Hội nghị lớn của Việt Nam và của TP.HCM rằng Viện chúng tôi là “ Viện Ô sin”, bởi lẽ tất cả bốn lĩnh vực hoạt động của chúng tôi, kể cả lĩnh vực nghiên cứu Khoa học - chuyển giao công nghệ đều là công việc dịch vụ, nói theo kiểu của người bình dân VN là “công việc của Ô sin”. Nhưng tiếc thay, Viện Ôsin sẵn sàng phục vụ các Ông Bà chủ với chất lượng cao, nhưng không dễ dàng tìm được những Ông Bà chủ tốt bụng chịu bắt tay với Ôsin tư nhân!

     Chính sách rộng mở của Nhà nước với hành lang pháp lý thông thoáng là một phía, còn một phía là sự thi hành chính sách, sự vận dụng pháp luật. Phía thứ hai này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, những yếu tố này lại không nằm trong bản thân chính sách Khoa học Công nghệ hoặc luật pháp về KHCN.

     Đơn cử một ví dụ, Viện chúng tôi đã bàn bạc kỹ càng, đã thỏa thuận một Hợp đồng nghiên cứu và Tư vấn cho Sở BC – VT – CNTT của một tỉnh ở Nam bộ về chiến lược phát triển CNTT và Viễn thông cho đến năm 2020, Hợp đồng đã được hẹn ngày ký kết, nhưng đến phút chót, ông GĐ Sở đã ngừng tay lại, chỉ vì một vài cơ quan chức năng trong tỉnh hỏi nhỏ “sao không ký với Viện Nhà nước, mà ký với Viện Tư nhân?”. Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với ông GĐ Sở, vui vẻ chấp nhận ngừng ký hợp đồng, mà lòng thì rất buồn.Các nhà Khoa học đã mất một cơ hội cống hiến hiểu biết của mình cho sự phát triển của đất nước, Viện thì mất đi một nguồn thu nhập, mà trước đó đã bỏ ra biết bao thời gian và sức lực để tìm hiểu, tham khảo, đi đến ký kết Hợp đồng.

     Một ví dụ tương tự, chúng tôi chuẩn bị ký 1 hợp đồng lớn với một Doanh nghiệp nhà nước rất lớn, cũng là một Hợp đồng nghiên cứu khoa học và tư vấn, đã bỏ ra rất nhiều công sức và thời gian nghiên cứu khảo sát để lên Đề cương, thông qua Đề cương, và thỏa thuận hợp đồng, nhưng phút chót, Tổng GĐ doanh nghiệp xin ngừng ký kết, với một lý do đơn giản là trong Hội đồng quản trị của Viện chúng tôi có một người là thân nhân của vị Tổng GĐ, gặp không may là lúc đó khắp nơi bàn tán xôn xao về các “Công ty gia đình” của một số Doanh nghiệp nhà nước.    

     Còn rất nhiều ví dụ nữa, chung quy là trong thực tế, Viện tư nhân vẫn bị kỳ thị, vẫn chịu thiệt thòi, vẫn không được bình đẳng với Viện nhà nước. Đó cũng là khó khăn lớn nhất của chúng tôi.

     Tôi cứ dại dột nghĩ rằng khó khăn này chưa biết đến bao giờ mới khắc phục được. 

Câu 5: Ông có thể chia sẻ với bạn đọc về một số dự định (hoặc mong muốn) trong thời gian tới? 

 Ngay từ khi chuẩn bị thành lập, các thành viên của Viện đã mang một hoài bão rất lớn, ước vọng có thể xây dựng viện EEI thành một cơ ngơi, một sân chơi, cho các nhà khoa học tâm huyết cống hiến trí tuệ của mình vào sự nghiệp KHCN của đất nước, mang lại lợi ích chân chính cho Tổ quốc và cho bản thân từng người. Gần 4 năm qua Viện đã khắc phục muôn vàn khó khăn, đã tiến được một bước, nhưng vẫn còn rất khiêm tốn.

Sắp tới Viện EEI dự định sẽ phấn đấu cho các mục tiêu sau:

-            Xin Thủ Tướng Chính Phủ giao nhiệm vụ đào tạo Tiến sĩ  và Thạc sĩ:

 Luật Giáo dục qui định: “Các trường ĐH và các Viện được quyền đào tạo Tiến sĩ khi Thủ tướng Chính phủ giao”. Nhà nước dự kiến Việt Nam đến năm 2020 sẽ đào tạo thêm 20 000 Tiến sĩ. Nếu được Thủ tướng Chính phủ giao, 60 Giảng viên có quyền đào tạo Tiến sĩ của Viện xin sẵn sàng đảm nhận ít nhất 1% dự kiến của nhà nước. Tức là Viện sẽ đào tạo cho Việt Nam ít nhất 200 Tiến sĩ.

-            Đăng ký và thực hiện những đề tài nghiên cứu KHCN tương xứng với khả năng và trình độ của các chuyên gia của Viện:

 Năm 2006 Quỹ nghiên cứu KHCN của Việt Nam là hơn 7000 tỷ đồng, còn dư 170 tỷ đồng không dùng đến (theo báo chí), trong khi đó Viện EEI không dám đăng ký một Đề tài nghiên cứu khoa học nào. Đó là sai sót của chúng tôi, kể cả  Ban lãnh đạo Viện cùng như các nhà Khoa học của Viện. Chúng tôi sợ  “con đường zich zăc” đi đến các đề tài nghiên cứu  khoa học, mặc dù nhiều Thành viên của Viện vẫn ôm ấp những đề tài nghiên cứu rất lớn. Chẳng hạn đau xót trước Đề án 112 Tin học hóa quản lý hành chính, có Thành viên mơ ước được thực hiện chương trình nghiên cứu khoa học nhằm xác định một đề án khả thi, hoặc ít nhất cũng là tiếp nhận và sửa đổi đề án của các nước tiên tiến cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hay riêng cá nhân tôi, có chút hiểu biết về kinh tế và kỹ thuật của ngành Hệ thống điện, vẫn ước mong được tham gia đề tài nghiên cứu tạm gọi là “Tối ưu hóa quá trình cổ phần hóa của ngành Điện Việt Nam trên quan điểm kinh tế kỹ thuật” với ý nghĩ rằng một đề tài như vậy sẽ giải quyết một cách tổng quát toàn bộ quá trình Cổ phần hóa, tránh được những cách nhìn phiến diện, tùy tiện, tránh được những “ Đại ngôn, đại ngữ” nhưng thiếu chứng cứ khoa học.

-            Mở rộng hợp tác Khoa học công nghệ với các nhà khoa học Việt kiều:

   Thu hút sức mạnh Khoa học Công nghệ của khoảng 300 000 Nhà khoa học Việt kiều là một chủ trương lớn của nhà nước Việt Nam, nhưng kết quả vẫn chưa được như mong muốn. Chúng tôi cho rằng cách tốt nhất thu hút sự đóng góp của Việt kiều là hợp tác với Việt Kiều thực hiện những Hợp đồng KHCN cụ thể, những Hợp đồng có tầm cỡ tương xứng với trình độ của các Trí thức Việt kiều. Viện chúng tôi mong muốn Nhà nước tạo điều kiện để có thể ký được những hợp đồng KHCN như vậy.

Nhân đây cũng nói thêm rằng, hiện tại đã có 2 Tiến sĩ Việt kiều ở Mỹ là Thành viên chính thức của Viện chúng tôi.

 

No comments:

Post a Comment