Sau ngày Liên Xô tan rã,
nước Nga không viện trợ, không cho vay, không đầu tư cho Việt Nam. Nhưng trong
sự phát triển hiện tại của Việt Nam, nước Nga vẫn giữ một vai trò có ý nghĩa
quan trọng…
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, từ năm 1975 đến năm 1991, Liên Xô (chủ yếu là nước Nga) cho Việt Nam vay khoảng 9.5 tỷ Rúp chuyển nhượng, theo các chuyên gia tài chính Nga thì tương đương với khoảng ngót nghét trên dưới hai chục tỷ USD, phía Việt Nam căn cứ theo một tỷ lệ giá khác thấp hơn đề nghị tính đúng thực khoản nợ này. (Hiện nay chính phủ hai nước đã đi đến thống nhất các nguyên tắc về giải quết vấn đề nợ cũ, giao cho các cơ quan tài chính chuyên trách nghiên cứu giải pháp cụ thể). Số tiền vay này Việt Nam dùng để trang trải các thiếu hụt về tiêu dùng cho nhân dân sau chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tiến hành kháng chiến chống cuộc xâm lăng của Trung Quốc 2-1979 ở biên giới phía bắc và chiến tranh chống Khơme đỏ ở Campuchia (1979-1989).
Sau ngày Liên Xô tan rã (8-1981), nước Nga không những không
viện trợ, không cho vay thêm mà đòi nợ Việt Nam. Việt Nam là nước nghèo nhất
nhì thế giới, đương nhiên thiếu tiền trả nợ, thế là cùng với nhiều hoàn cảnh
khác, quan hệ Việt - Nga xấu dần.
Người Việt Nam giận nước Nga trong phút chốc đã đánh mất chủ
nghĩa xã hội, lý tưởng tốt đẹp mà họ đã dày công xây dựng và đổ nhiều xương máu
để bảo vệ suốt hơn 70 năm trời, giận nước Nga vội vàng quay ra đòi nợ người anh
em nghèo đã cùng chung lưng đấu cật và đổ biết bao xương máu cho lý tưởng
chung.
Từ nổi giận chính đáng đó, người Việt Nam chỉ thấy mặt trái
của đất nước Nga sau ngày Liên Xô khuất bóng, và cũng như thể quên đi vai trò lớn
lao của nước Nga đối với sự phát triển
kinh tế ngày nay của Việt Nam. Nhất là từ năm 1991 – 1992 tới nay, nhờ chính
sách Kinh tế mở cửa mà đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam ồ ạt, Kinh tế Việt Nam
phát triển với nhịp độ làm kinh ngạc nhiều nước trên thế giới, trong khi nước
Nga gần như quên Việt Nam, không còn viện trợ và cho vay, quan hệ thương mại
hai nước gần như bằng không. Nước Nga chìm trong khó khăn… người ta hình như
quyên bẵng nước Nga.
Tuy nhiên, nếu xem xét thấu đáo và khách quan, chúng ta sẽ
thấy nhiều điều thú vị.
Nói đến đầu tư nước ngoài (ĐTNN), phải xét nhiều yếu tố, nhưng có lẽ quan trọng nhất là:
- Tổng vốn đầu tư thực hiện (khác với tổng vốn đăng ký)
- Đóng góp vào ngân sách nhà nước từ thực hiện vốn đó
- Đóng góp vào xuất khẩu
- Đóng góp vào tổng sản phẩm xã hội (GDP)
Tuy số liệu chính thức về đầu tư trực tiếp và gián tiếp của
Liên Xô (nước Nga) vào Việt Nam trước năm 1991-1992 không công bố trong các
sách báo, nhưng cũng có thể tính gần đúng được. Ví dụ như đầu tư trực tiếp vào
vào Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Liên Xô (VIETSOPETRO-VSP), theo con số của các
chuyên gia giàu kinh nghiệm, thì không dưới 1.5 tỷ USD, đầu tư gián tiếp dưới dạng
cho vay vốn, cung cấp thiết bị và chuyên gia, ít nhất có thể kể đến các nhà máy
điện như: Nhiệt Điện Phả Lại 440 MW, Nhiệt Điện Uông Bí 158 MW, Thuỷ Điện Hoà
Bình 1920 MW Công Suất điện là 1.5 USD (điện nguyên tử 20.-3.5 triệu USD/KW), tổng
vốn đầu tư cho 4 công trình này tương đương 4.5 tỷ USD. Như vậy mới kể đến xí
nghiệp liên doanh dầu khí VSP và 4 nhà máy điện thì vốn đầu tư của Liên Xô (nước
Nga) vào Việt Nam không dưới 6 tỷ USD.
Hiện nay đã có 57 quốc gia và vùng lảnh thổ đầu tư vốn vào
Việt Nam. (tổng số vốn đầu tư nước ngoài (không kể vốn của Nga) vàoViệt Nam qua
các năm được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong
nước. Số liệu về số vốn thực hiện qua từng năm và số liệu được cộng dồn được nêu
trên Bảng1
Bảng 1 cho thấy tổng vốn đầu tư thực hiện của nước ngoài vào Việt Nam tính đến đầu năm 1996 (5807 triệu USD) vẫn còn thấp hơn con số đầu tư của riêng nước Nga cho công trình nêu trên (6 tỷ USD)
Bảng 2 thống kê
16 nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư nhiều nhất vào nền kinh tế Việt Nam
tính đến 15-10-1997, trong đó số vốn đăng ký lấy theo số liệu công bố chính thức,
số vốn thực hiện được tính ước lượng theo tỷ lệ 37% thực hiện trên tổng vốn
đăng ký.
Từ bảng 2 thấy rằng vốn đầu tư thực tế của Nga vào 5 công trình năng lượng của Việt Nam đã lớn hơn 3 lần vốn thực hiện của 171 công trình của Singapor là nước có số vốn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam hiện nay.
Thực ra, điều
đáng quan tâm nhất là hiệu quả của vốn Đấu tư nước ngoài đối với nền Kinh tế mà
chỉ tiêu quan trọng để đánh giá đó là số tiền nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN)
do thực hiện vốn ĐTNN đem lại.
Bảng 3 cho
thấy, chính xí nghiệp liên doanh với Nga VSP đã đóng góp cho NSNN nhiều hơn nhiều
lần so với tổng số đóng góp vào NSNN của toàn bộ ĐTNN các nước gộp lại. Nếu có thể
tính tiền đóng góp vào NSNN của 4 công trình nhiệt điện còn lại thì sự so sánh
có thể còn thú vị hơn nữa.
Một chỉ tiêu khác đánh giá hiệu quả vốn ĐTNN là trị giá hàng xuất khẩu mang lại ngoại tệ cho đất nước. Liên doanh VSP là Xí nghiệp ĐTNN dẫn đầu về tổng kim ngạch xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của Việt Nam.
Để hiểu rõ vai trò của VSP trong nền Kinh tế Việt Nam, ta có thể so sánh Xuất khẩu của VSP với việc Xuất khẩu Gạo của toàn cõi Việt Nam đang là nước đứng thứ 3, có thể sẽ là thứ 2 trên thế giới về XK gạo (Bảng 6).
Một đất nước mà nông nghiệp là nguồn sống của trên 80% dân số,
gồm gần 60 triệu người ở nông thôn, có số sản xuất khẩu chính là gạo, nhưng chỉ
bằng 2/3 kim ngạch XK của Xí nghiệp VSP với 6000 lao động Việt Nam và 1000 người
Nga làm việc.
Cuối cùng, hãy thử so sánh Xuất khẩu dầu thô của VSP với tổng
kim ngạch XK của tất cả các dự án ĐTNN của các nước khác (Bảng 7)
Hoá ra, như một bài dân ca Việt Nam “…Giận thì giận mà
thương thì thương…”, nước Nga đáng giận thật, nhưng cũng dễ thương đấy chứ, một
nước Nga tuy đã tạm lãng xa trong tầm nhìn của ai đó ở Việt Nam, nhưng mỗi ngày
nước Nga ấy vẫn tiếp tục mang lại cho Việt Nam những gì gọi là hàng đầu , là to
lớn, với bao ý nghĩa hiện thực.
No comments:
Post a Comment