Tiến sĩ Nguyễn Bách Phúc
Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý TP. HCM HASCON
Viện trưởng Viện Điện - Điện tử - Tin học EEI
Tiếp đó, nối tiếp thực hiện một loạt kiểm toán năng lượng tại nhiều nhà máy ở TP. Hồ Chí Minh.
Đến giữa năm 1993, với hỗ trợ của Ủy Ban KHKT Thành phố, Cơ Quan Môi Trường và TKNL ADEME đã tổ chức khóa đào tạo đầu tiên về kỹ thuật kiểm toán năng lượng tại Trường Đại Học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh.
Cũng trong năm 1993, Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển về TKNL Pháp TRANSENERG đã thiết lập một Văn phòng đại diện tại TP. Hồ Chí Minh. Văn phòng này đã gửi các kỹ sư Việt Nam đến Học Viện Công Nghệ Châu Á (AIT- Thái Lan) để đào tạo về chuyên ngành Hợp Lý Hóa Sử Dụng Năng Lượng.
Năm 2000 Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển về TKNL Pháp TRANSENERG được hoàn toàn chuyển giao cho phía Việt Nam, trở thành một cơ quan Nghiên Cứu và Phát Triển (R&D) của Việt Nam, mang tên Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển về TKNL ENERTEAM, đăng ký hoạt động theo Nghị định 35 của Chính phủ.
Những hoạt động TKNL mang tính khai phá của TP. Hồ Chí Minh đã tác động đến Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường.
Đầu năm 1994, Vụ Quản lý Công nghiệp của Bộ KHCN&MT, với trợ giúp kỹ thuật của Cơ Quan Môi Trường và TKNL ADEME thông qua Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển về TKNL Pháp TRANSENERG, đã thực hiện một số kiểm toán năng lượng đầu tiên ở phía Bắc, đặc biệt là Hà Nội.
Những hoạt động mang tính khởi xướng này đã thu hút sự quan tâm và trợ giúp của các tổ chức quốc tế của nhiều nước như Hà Lan, Nhật, Đức, v.v…
Năm 1995, “Tổng Sơ Đồ TKNL Quốc Gia” đã ra đời, do Vụ Quản lý Công Nghiệp, Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường chủ trì, với sự tham gia của nhiều trường Đại Học, cơ quan và tổ chức trong và ngoài nước, trong đó, bên cạnh Cơ Quan Môi Trường và TKNL ADEME, còn có trợ giúp mạnh mẽ của Chính phủ Hà Lan, thông qua tổ chức cố vấn EDP (Hà Lan).
Từ đó, các hoạt động TKNL tiếp tục phát triển ở nhiều địa phương, và không chỉ giới hạn trong ngành công nghiệp, mà lan tỏa ra các ngành khác, như dịch vụ, du lịch, khách sạn, tòa nhà, v.v...
Hoạt động TKNL tại Việt Nam bắt đầu khởi sắc từ khi ra đời ”Tổng Sơ Đồ TKNL Quốc Gia”. Văn phòng dự án này giữ vai trò rất quan trọng và hiệu quả trong việc điều phối và tìm kiếm viện trợ quốc tế, cũng như phát triển các hoạt động trong nước.
Năm 1999, với trợ giúp của chính phủ Đức, thông qua cơ quan GTZ, Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi trường, với Văn phòng dự án nói trên, đã nghiên cứu về sự cần thiết thành lập Trung tâm TKNL Quốc gia và các Trung tâm địa phương.
Năm 2000, tổ chức Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật Bản JICA và Ủy Ban Kinh Tế Xã Hội Châu Á Thái Bình Dương – Liên Hợp Quốc UN - ESCAP đã nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ cho các Trung tâm TKNL địa phương.
Trên cơ sở hai nghiên cứu nói trên, Bộ Khoa Học , Công Nghệ & Môi Trường và các Chính quyền địa phương đã quyết định thành lập năm Trung tâm TKNL địa phương, trực thuộc Sở Khoa Học Công Nghệ của các tỉnh và thành phố, gồm có: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng.
Tuy nhiên, chỉ có Trung Tâm TKNL TP. Hồ Chí Minh (ECC- HCMC), thành lập năm 2003, là có lực lượng kỹ thuật, đang trong giai đoạn vừa làm vừa thu thập kinh nghiệm và có mối quan hệ hợp tác rất tốt với Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển về TKNL ENERTEAM.
TKNL đã được Nhà nước Việt Nam hết sức coi trọng, có thể nói TKNL đã trở thành một quốc sách. Năm 2003 Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 102/2003/ND-CP (ngày 03/09/2003) “Về Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm và Hiệu Quả”, và Bộ Công nghiệp đã ban hành Thông tư số 01/2004/TT-BCN ngày 02/07/2004 về “Hướng Dẫn Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm Hiệu Quả Đối Với Các Cơ Sở Sản Xuất”. Năm 2006 Bộ Công nghiệp đã đề xuất “Chương trình tiết kiệm điện giai đoạn 2006-2010”, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định phê duyệt chương trình này, bao gồm Quyết định số 79/2006 QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, và Quyết định số 80/2006 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ Phê duyệt chương trình tiết kiệm điện giai đoạn 2006 – 2010 ngày 14 tháng 4 năm 2006.
Ngoài ra, hoạt động TKNL cũng là một thành phần không thể thiếu trong lĩnh vực “Sản Xuất Sạch Hơn” (Cleaner Production) và lĩnh vực “Năng suất“ (Productivity). Vì vậy, các dự án TKNL được thực hiện trong các chương trình Sản Xuất Sạch Hơn và Năng suất.
Hoạt động TKNL trong lĩnh vực Năng Lượng Điện có tên gọi là: “Quản Lý Phía Nhu Cầu”, hay được gọi thông dụng hơn là DSM (Demand Side Management). Hoạt động này của Việt Nam đang thu hút chú ý của các tổ chức quốc tế lớn như Ngân Hàng Thế Giới.
Dưới đây là bảng tóm tắt các Chương trình và Dự án mà các nước và các Tổ chức Quốc tế đã và đang tài trợ cho Việt Nam
Các dự án về tiết kiệm năng lượng đã và đang triển khai
TT
|
Tên Chương trình,
Dự án |
Cơ quan
cấp Vốn tài trợ |
Vốn tài trợ
|
Cơ quan
quản lý trực tiếp |
Thời gian tiến hành
|
Mức tài trợ %
|
01
| Dự án sử dụng năng lượng hiệu quả và quản lý phía nhu cầu Việt | Ngân hàng thế giới (WB) |
19,44 triệu USD
|
Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN
|
4 năm (2003 - 2006)
| |
02
| Dự án “Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa” của Việt | Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), thông qua Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) |
29,23 triệu USD
|
Bộ Khoa học và công nghệ
|
5 năm (2006 – 2010)
| |
03
| Chương trình tiết kiệm Năng lượng thương mại thí điểm CEEP, thuộc Dự án Quản lý tiết kiệm năng lượng thí điểm DSM/EE | Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), thông qua Ngân hàng thế giớI WB |
3,25 triệu USD
|
Cục điều tiết
điện lực Bộ Công Thương |
20% đến 40%
| |
04
| Dự án hỗ trợ các chương trình Biogas cho ngành chăn nuôi tại các tỉnh được lựa chọn ở Việt | Chính Phủ Hà Lan |
2 triệu USD
|
Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn |
4 năm
| |
05
| Chương trình phát triển năng lượng tái tạo | Cơ quan hợp tác quốc tế Thụy Điển (SIDA) và Ngân hàng thế giới |
4,5 triệu USD
|
Bộ Công Thương
|
5 năm
| |
06
| Đèn chiếu sáng công cộng tiết kiệm năng lượng |
UNDP
|
374.900 USD
|
18 tháng (3/2001- 8/2002)
| ||
07
| Dự án thúc đẩy tiết kiệm năng lượng trong SMEs |
UNDP
|
384.800 USD
|
30 tháng (8/2002- 3/2005)
| ||
08
| Quy hoạch tổng thể về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả |
MOSTE
|
1,5 triệu USD
|
6 năm
(1995 - 2000) |
No comments:
Post a Comment