21 tháng 5 2015

LẤN BỜ SÔNG ĐỒNG NAI KHÔNG THỂ GÂY RA LỤT VÀ HẠN

NĂM 2015 THÁNG 5 NGÀY 21
HASCON.NET
BLOG "HỘI HASCON VÀ VIỆN EEI"
https://hoihasconvavieneei.blogspot.com/2015/05/lan-bo-song-ong-nai-khong-gay-ra-lut-va.html

XIN CÁC NHÀ KHOA HỌC DỎM ĐỪNG LỪA BỊP NHÂN DÂN VÀ CÔNG LUẬN:
BÀI 1, LẤN BỜ SÔNG ĐỒNG NAI KHÔNG THỂ GÂY RA LỤT VÀ HẠN
 
TS Nguyễn Bách Phúc
Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON
Viện trưởng Viện Điện – Điện tử - Tin học EEI

(Sẽ viết thêm 2 bài:

Bài 2, Lấn bờ sông Đồng Nai không thể gây ra sạt lở

Bài 3, Lấn bờ sông Đồng Nai không thể gây ảnh hưởng xấu đến Môi trường sinh thái)

Mấy tháng qua một số người mang danh là “Nhà khoa học” với những học vị chức tước này nọ, đã dùng mọi phương tiện để tuyên truyền một câu chuyện hoang đường rằng “Lấn bờ sông Đồng Nai ở Thành phố Biên Hòa sẽ gây ra lụt và hạn, làm tan hoang chết chóc 11 tỉnh hạ lưu sông Đồng Nai”.

Hai tiếng “lụt” và “hạn”, người dân ai cũng hiểu đó là “thủy hại”. Để chống lại “thủy hại” nhân loại có “khoa học thủy lợi”, có các “công trình thủy lợi"

Các “Nhà khoa học dỏm” lớn tiếng dọa dẫm “lụt” và “hạn”, nhưng hầu hết họ không biết gì về khoa học thủy lợi, cố tình đưa ra những “lý luận” bịa đặt để lừa bịp Nhân dân và Công luận.

Trước hết, chưa cần đến “khoa học thủy lợi” cao siêu, người bình đân ai cũng hiểu “lụt” là gì và “hạn” là gì. Rất đơn giản, “lụt” bởi, 1 là “trời mưa to, mưa lâu”, 2 là “nước nguồn đổ về dòng sông rất nhiều”, 3 là “nước sông dâng cao” gây ra nạn “lụt”, còn “hạn” thì ngược lại, 1 là “trời mưa nhỏ, mưa ít”, 2 là “nước nguồn đổ về dòng sông rất ít”, 3 là “nước sông xuống rất thấp” gây ra nạn “hạn”.

Bằng suy nghĩ thông thường và dễ hiểu này có thể dễ dàng trả lời cho câu hỏi: “Lấn bờ sông Đồng Nai ở Thành phố Biên Hòa có thể gây ra lụt và hạn không?”

Một là, “mưa to hay nhỏ, nhiều hay ít”, là chuyện của Trời, không phải chuyện của Người. Hai là, “nước nguồn đổ về dòng sông rất nhiều hay rất ít”, cũng là chuyện của Trời, không phải chuyện của Người. Ba là “nước sông dâng cao hay xuống rất thấp”, cũng là chuyện của Trời, không phải chuyện của Người. Như vậy Con Người không thể “gây ra” lụt và hạn ở hạ lưu.

Nói thêm cho rõ, Con Người,  bằng khoa học thủy lợi đã có thể can thiệp vào “lụt” và “hạn” ở hạ lưu. Nhưng, những can thiệp nay là để “giảm lụt”“giảm hạn” cho vùng hạ lưu, chứ không phải để “gây ra”, để “tăng thêm” lụt và hạn cho hạ lưu như mấy “Nhà khoa học dỏm” ầm ỹ.

Để “giảm lụt”“giảm hạn” cho hạ lưu, phải xây một con đập chắn ngang dòng sông, phía thượng lưu con đập hình thành hồ chứa nước rất lớn, gọi là “hồ thủy lợi”, nếu kết hợp phát điện, thì gọi là “hồ thủy lợi – thủy điện”. Khi lũ đổ về, hồ sẽ giữ lại (chứa vào hồ) một phần dòng lũ, khiến dòng lũ ở hạ lưu đập nhỏ hơn dòng lũ của Trời ở thượng lưu. Kết quả này thường được gọi là chống lũ lụt cho hạ lưu. Ngược lại, về mùa khô hạn, dòng nước của Trời từ thượng nuồn chảy về rất ít, Hồ thủy lợi-thủy điện sẽ “tiếp tay” cho dòng hạ lưu, bằng cách xả dần nước chứa sẵn trong hồ cho hạ lưu, gọi là giảm hạn hay chống hạn.

           Không gian chứa nước của Hồ (dung tích của Hồ) phục vụ chống lụt chống hạn gọi là Dung tích điều tiết hoặc Dung tích hữu ích.

           Trên dòng sông Đồng Nai hiện có khá nhiều Hồ Thủy điện nhưng chỉ có duy nhất Hồ Thủy điện Trị An, rộng 324 Km2, Dung tích điều tiết 2,7 tỷ m3, là đủ lớn để chống lụt chống hạn cho dòng sông Đồng Nai.

Mấy “Nhà khoa học dỏm” do không hiểu gì về khoa học thủy lợi, nên suốt mấy năm nay tuyên truyền chửi rủa Hồ Thủy điện “gây ra” lũ lụt và hạn hán cho hạ lưu. Đến nay họ tiến thêm 1 bước, ầm ỹ rằng lấn sông Đồng Nai cũng sẽ gây ra lụt và hạn, làm tan hoang chết chóc 11 tỉnh hạ lưu.

Có thể minh chứng những điều trình bày trên đây bằng những tính toán khoa học chính xác của khoa học Thủy lợi, cụ thể là tính toàn theo “Thủy động lực học dòng chảy trong kênh hở”. Đây là bài toán phức tạp, với nhiều dữ liệu đầu vào (điều kiện biên), được giải bằng những chương trình máy tính quy mô cồng kềnh.

Công trình lấn sông này, ngay từ đầu đã làm 1 việc rất nghiêm túc và rất đúng đắn, là thuê Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam làm “Báo cáo tác động dòng chảy sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh”, hết hơn 589 triệu đồng, lại còn thuê Viện Thủy lợi và Môi trường của Đại học Thủy lợi thẩm tra Báo cáo. Theo PGS TS Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, thì kết luận của Báo cáo và của Thẩm tra là “việc xây dựng công trình lấn sông ở khu vực (theo các phương án lấn sông: 50 m, 75 m, 100m) không làm thay đổi đáng kể về chế độ thủy lực của dòng chảy đoạn sông, không gây ảnh hưởng xấu đến sự thay đổi dòng chảy và tác động đến các đoạn bờ lân cận”.

Chúng tôi rất ngạc nhiên, tại sao Đồng Nai không đưa Báo cáo này cho các Nhà khoa học dỏm, để họ khỏi tuyên truyền phản khoa học?, hay Đồng Nai đã đưa, nhưng họ không có kiến thức để hiểu?, hay vì Đồng Nai trước đây đã quá tin vào các nhà khoa học dỏm này để quyết liệt chống lại Thủy điên Đồng Nai 6 và 6A, nay không tin vào Báo cáo khoa học của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam?

Chúng tôi không có thông tin đầy đủ để đưa lên máy tính tính toán như Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, nên ở đây chỉ có thể đưa ra những tính toán sơ bộ gần đúng, nhưng đủ để đánh giá sơ bộ tác đông thủy lợi của công trình:

Bài toán thủy lợi cũng phải xét 3 yếu tố như đã nói ở phần trên:

Yếu tố 1: “mưa to hay nhỏ, nhiều hay ít”, vẫn là chuyện của Trời, con người chỉ có thể dự báo, nhưng là dự báo của Khoa học khí tượng thủy văn. Tính toán thủy lợi tiếp thu những thông tin dự báo để phục vụ những tính toán cụ thể.

Yếu tố 2: “nước nguồn đổ về dòng sông nhiều hay ít”, cũng là chuyện của Trời. Khoa học thủy lợi đánh giá mức độ này bằng đại lượng “Lưu lượng dòng chảy”, đơn vị đo thường là m3/giây, là số lượng nước (Dung tích nước) chảy dọc dòng sông trong 1 đơn vị thời gian. Lưu lượng của dòng sông ở đầu nguồn còn rất nhỏ nhưng dần dần sẽ tăng lên nhờ nước mưa trong lưu vực chảy xuống, nhờ hợp lưu của các dòng sông nhánh.

Tuy vậy có 1 điều rất quan trọng, là trong một đoạn sông không có hợp lưu và phân lưu thì lưu lượng của dòng sông là 1, không thể khác nhau. Ví dụ, đoạn sông Đồng Nai đi qua thành phố Biên Hòa, từ ngã 3 dưới Cù lao Thạnh Hội (nơi hợp lưu 2 nhánh sông) đến điểm phân lưu trên Cù lao Phố, có lưu lượng giống nhau từ đầu đoạn đến cuối đoạn, cho dù có những chỗ rộng hẹp nông sâu khác nhau. Nghĩa là lưu lượng ở chỗ hẹp nhất 208 m gần Bến phà (gần trụ sở UBND xã Tân Hạnh) cũng bằng lưu lượng ở chỗ rộng nhất 805 m gần Cục Thuế Đồng Nai.

Khoa học thủy lợi phải dùng phương pháp đo đạc để xác định lưu lượng dòng sông. Lưu lượng này thay đổi thường xuyên theo thời gian trong ngày, trong mùa, trong năm. Người ta phải đo đạc nhiều lần, và cuối cùng lấy con số bình quân gần đúng. Ví dụ đoạn sông Đồng Nai đi qua thành phố Biên Hòa nói trên, người ta đã đo đạc và thấy: bình quân về mùa khô là 3319 m3/giây, về mùa mưa lũ, đỉnh lũ là 12546 m3/giây.

Yếu tố 3: “nước sông dâng cao bao nhiêu, hoặc hạ xuống bao nhiêu”

Đây là bài toán cơ bản nhất, quan trọng nhất của “Thủy động lực học dòng chảy trong kênh hở”. Có thể diễn đạt nôm na bài toán này như sau:  khi ông Trời ép xuống dòng sông 1 lưu lượng, kí hiệu là Q, thì dòng sông buộc phải chấp nhận lưu lượng này, dòng sông không thể từ chối, vì không thể đẩy ngược nước lên trời. Lúc đấy dòng sông phải phản ứng thế nào để chấp nhận lưu lượng của Trời?, theo “Thủy động lực học dòng chảy trong kênh hở” thì phản ứng tự nhiên và đúng quy luật là chiều cao H của mặt nước sông từ đầu nguồn đến biển sẽ dâng lên hay hạ xuống tùy theo lưu lượng. Điều này có thể nhận thấy 1 cách trực quan, khi lũ lụt, ông Trời ép xuống lưu lượng rất lớn thì mức nước đầu nguồn dâng rất cao, dẫn đến mức nước toàn dòng sông dâng cao, gây ra lụt lội, ngược lại tại mùa khô ông Trời ép xuống dòng dông lưu lượng nhỏ, dẫn đến chiều cao mực nước của toàn dòng sông hạ xuống rất thấp.

Để giải bài toán này, trước hết phải xác định “sức cản của dòng sông”, hoặc còn gọi là “trở kháng của dòng chảy” của toàn bộ dòng sông từ nguồn tới biển, tạm kí hiệu đại lượng này là R.

Chiều cao H của mặt nước sông đầu nguồn sẽ là: H = Q x R.

Chúng tôi không có điều kiện để tính trở kháng R của toàn bộ dòng sông Đồng Nai, nhưng có thể tính toán so sánh độ cao H của sông Đồng Nai ở thành phố Biên Hòa trước khi và sau khi có việc lấn bờ.

Kết quả tính toán sơ bộ gần đúng của chúng tôi là: công trình lấn sông Đồng Nai sẽ tác động nâng độ cao của mặt sông Đồng Nai ở Biên Hòa vào mùa lũ lên 0,33 mm.

Đây là kết quả bài tính sơ bộ gần đúng, sai số có thể lên tới mấy chục %. Nhưng cứ cho rằng sai số lên tới cộng trừ 300 % đi nữa, thì mực nước lũ ở Biên Hòa cao nhất cũng chỉ tăng thêm: 0,33 mm x 300 % = 1 mm!

Chúng tôi không được đọc Báo cáo tác động dòng chảy sông Đồng Nai của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, không biết chỉ số này trong Báo cáo là bao nhiêu, nhưng chắc chắn là không khác biệt nhiều.

Nước lũ chỉ có thể dâng thêm tối đa 1 mm, mà các nhà khoa học dỏm ra sức tuyên truyền rằng 11 tỉnh hạ lưu sông Đồng Nai sẽ chết vì lũ do lấn sông!

Dưới đây là phần phụ lục, trình bày tính toán sơ bộ gần đúng của chúng tôi xin mời những bạn đọc có quan tâm tham khảo.

 

PHỤ LỤC:

1.    Mức độ tăng lên của sức cản tại đoạn sông bị lấn:

-        Trước khi bị lấn: Chiều rộng dòng sông là 805 m, chiều dài vùng bị lấn 1,3 Km. Có thể thấy diện tích mặt thoáng của dòng chảy ở đoạn này là:

 805 m x 1300 m = 1.046.500 m2 = 104,6 ha

-        Sau khi bị lấn: diện tích bị lấn là 7,3 ha, như vậy diện tích mặt thoáng của dòng chảy ở đoạn này còn lại là: 104,6 ha – 7,3 ha = 97,3 ha.

-        Có thể tính gần đúng rằng sức cản dòng chảy tỉ lệ nghịch với diện tích mặt thoáng của dòng chảy. Như vậy sức cản dòng chảy của đoạn sông này sau khi bị lấn đã tăng lên: 104,6/97,3 = 1, 075, tức là đã tăng thêm 7,5 %

2.    Mức độ tăng lên của sức cản của toàn dòng sông Đồng Nai sau khi bị lấn:

-        Dòng sông Đồng Nai dài tổng cộng 585 Km

-        Đoạn sông bị lấn dài 1,3 Km, nghĩa là chiếm 1,3/585 = 0,0022 = 0,22 % chiều dài dòng sông Đồng Nai.

-        Sức cản dòng chảy của các đoạn sông không đồng đều, nói chung ở thượng nguồn sức cản rất lớn, vì lòng sông hẹp và nông, càng xuôi hạ lưu thì sức cản càng giảm xuống vì lòng sông mở rộng, đáy sông sâu. Chúng tôi không có điều kiện tính chi tiết, cho nên để bài toán đơn giản, tạm tính rằng sức cản dòng chảy là đồng đều suốt dòng sông.

-        Vậy do công trình lấn sông ở Biên Hòa, sức cản của toàn dòng sông Đồng Nai sau khi bị lấn đã tăng lên: 7,5 % x 0,22 % = 0.0165 %.

3.    Mực nước sông Đồng Nai tăng lên như thế nào khi có công trình lấn sông:

-        Mực nước ở đầu nguồn sông Đồng Nai: H = Q x R,

-        Do R tăng lên 0,0165 % nên H cũng tăng lên 0,0165 %.

-        Đồng thời trên suốt dọc sông Đồng Nai mực nước tại mọi điểm đều tăng lên 0,0165 %

-        Đến đây có thể tính được mực nước sông Đồng Nai tại thành phố Biên Hòa tăng lên bao nhiêu khi có công trình lấn sông:

Cao độ mặt nước sông Đồng Nai ở Biên Hòa vào mùa lũ là xấp xỉ 2 m.

Việc lấn sông Đồng Nai làm tăng cao độ lên 0,0165 %, nghĩa là tăng lên: 2 m x 0,0165 % = 0,33 mm

 

 

 

 

  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét