Khi tính toán đầu tư một Dự án, Nhà đầu tư
quan tâm nhiều nhất, là hiệu quả kinh tế của Dự án. Trong trường hợp Đường sắt
cao tốc Bắc Nam, không chỉ là Nhà Đầu tư, mà mọi Công dân và các cấp Lãnh đạo đất
nước đều hết sức quan tâm.
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi đọc “Báo cáo
đầu tư xây dựng” của Tổng Công ty đường sắt Việt Nam, dài 33 trang, chỉ nói vắn
tắt không đầy 2 trang về hiệu quả kinh tế - xã hội của Dự án, nhất là phần hiệu
quả kinh tế chỉ có mấy dòng kết luận sơ
sài và không có một chút thuyết minh nào. Tương tự, trong “Tờ trình của Chính
phủ trình Quốc hội” do Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng, thay mặt Chính phủ, thừa ủy
quyền Thủ tướng ký, phần thuyết minh hiệu quả kinh tế của Dự án còn sơ sài hơn
nữa.
Ngày 17 tháng 4 năm 2010, Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng báo cáo TVQH, Tổng vốn đầu tư toàn Dự án là 55,853 tỷ USD, trong đó phần vốn đầu tư cho Thiết bị là 9,587 tỷ USD. Khi trả lời câu hỏi về hiệu quả kinh tế của Dự án, ông Bộ trưởng nói đại ý: Vốn đầu tư cho Phần xây dựng công trình sẽ do Chính phủ chịu, không phải thu hồi, Nhà đầu tư chỉ đầu tư Phần thiết bị và tổ chức kinh doanh vận hành, nên chỉ dự kiến thu hồi vốn thiết bị, và Thời gian thu hồi vốn thiết bị nhanh nhất là từ 10 đến 12 năm. Trong “Báo cáo đầu tư xây dựng” và trong “Tờ trình của Chính phủ trình Quốc hội” cũng viết Thời gian thu hồi vốn thiết bị nhanh nhất là từ 10 đến 12 năm.
Từ văn bản cũng
như từ câu trả lời của ông Bộ trưởng, tức là từ chính nguồn thông tin của chính
ông Bộ trưởng, chúng tôi xin đưa ra một vài phân tích, để thấy rõ thực chất hiệu quả kinh tế của Dự án này.
Xin lưu ý rằng những
tính toán sau đây đều dựa trên những nguyên tắc cơ bản, độ chính xác của tính
toán ở mức chấp nhận được. Còn muốn tính thật chính xác, đòi hỏi phải có đầy đủ
thông tin về Dự án, cái đó chúng tôi không có.
Căn cứ vào Thời gian thu hồi vốn đầu tư, có thể tính
được Lợi nhuận hàng năm của Dự án. Sẽ
tính cho 2 trường hợp 10 năm và 12 năm của ông Bộ trưởng.
Với Thời gian thu hồi vốn đầu tư Thiết bị là
10 năm, thì Lợi nhuận hàng năm của toàn Dự án sẽ là 9,587 tỷ USD/10
năm = 0,958 tỷ USD/năm,
Tương tự, với Thời gian thu hồi vốn đầu tư Thiết bị là 12 năm, thì Lợi nhuận hàng năm của toàn Dự án sẽ là 9,587 tỷ USD/12 năm = 0,797 tỷ USD/năm.
Có thể tính Tỷ suất lợi nhuận hàng năm trên Tổng vốn đầu
tư bằng cách lấy Tổng đầu tư chia
cho Lợi nhuận hàng năm.
Vấn đề ở đây là: Tổng
vốn đầu tư của toàn Dự án có phải là 55,853 tỷ USD hay không? Câu trả lời phụ
thuộc rất nhiều yếu tố, nhưng ở đây chúng tôi chỉ xét một yếu tố rất đơn giản
và rất rõ ràng: Tuổi thọ của công trình xây dựng và Tuổi thọ của thiết bị.
“Báo cáo đầu tư”
và “Tờ trình” không nói rõ Tuổi thọ của công trình xây dựng này là bao nhiêu
năm. Nhưng chúng ta có thể ước tính tối đa là 100 năm. Điều này có thể minh chứng
một cách trực quan. Ví dụ cầu Long Biên khánh thành năm 1904, đến nay hơn100 tuổi
vẫn còn làm việc, tuy không còn giữ được vai trò ban đầu của mình nữa, hoặc như
đường sắt Xuyên Việt khánh thành năm 1939, đến nay đã được 71 tuổi, vẫn là tuyến
đường sắt trụ cột của Việt Nam.
“Báo cáo đầu tư”
và “Tờ trình” cũng không nói rõ Tuổi thọ của Thiết bị là bao nhiêu năm. Tuổi thọ
của Thiết bị trong ngành GTVT hiện nay là khoảng 10 đến 15 năm. Điều này cũng
có thể thấy một cách trực quan, ví dụ một chiếc Ô tô “xịn” chỉ mới 10 tuổi đã
trở thành “đồ cổ” lỗi thời lỗi mốt. Đặc
biệt, các thiết bị điện tử tin học tự động hóa, chỉ 4, 5 năm hoặc vài ba năm đã
buộc phải thay thế, vì không còn đáp ứng được những tiến bộ vũ bão của công nghệ.
Trường hợp các thiết bị của đường sắt cao tốc, là loại thiết bị hiện đại, chắc
chắn sử dựng nhiều công nghệ cao và trình độ tự động hóa rất cao, chúng ta khó
xác định được chính xác tuổi thọ, nhưng ở đây có thể tạm tính với con số hết sức
lạc quan là 15 năm.
Như vậy, vốn đầu
tư cho thiết bị 9,583 tỷ USD chỉ có giá trị trong 15 năm. Sau 15 năm Chủ đầu tư
lại phải sắm mới. Cứ tạm cho rằng, sau mỗi 15 năm, giá thiết bị không thay đổi,
nghĩa là sau mỗi 15 năm chúng ta lại buộc phải bỏ ra 9,583 tỷ USD để sắm mới. Nếu
không sắm mới thì Công trình Đường sắt cao tốc chỉ còn bỏ hoang.
Với tuổi thọ của
công trình là 100 năm, số lần mua sắm thiết bị sẽ là 100/15 lần. Số lần mua sắm
thiết bị sau lần sắm đầu tiên là (100/15 -1) lần. Tổng số tiền mua sắm thiết bị
về sau, sau 15 năm đầu tiên, là: (100/15 – 1) x 9,583 tỷ USD = 54,304 tỷ USD.
Tóm lại, để Dự án
vận hành trong suốt tuổi thọ, thì Tổng vốn
đầu tư sẽ là:
55,853 tỷ USD + 54,304 tỷ USD = 110,157 tỷ USD.
Có thể tính được Tỷ suất lợi nhuận hàng năm trên Tổng vốn đầu
tư trong 2 trường hợp của Ông Bộ trưởng:
- Với Lợi
nhuận hàng năm của toàn Dự án là
0,958 tỷ USD/năm, Tỷ suất lợi nhuận hàng
năm trên Tổng vốn đầu tư sẽ là: (0,958
tỷ USD/năm)/ 110,157 tỷ USD = 0,87%
- Với Lợi
nhuận hàng năm của toàn Dự án là
0,797 tỷ USD/năm, Tỷ suất lợi nhuận hàng năm trên Tổng vốn đầu tư sẽ là: (0,797 tỷ USD/năm)/ 110,157 tỷ USD = 0,72%
Cũng
có thể tinh được Thời gian thu hồi Vốn Đầu
tư của Dự án:
-
Với
Lợi nhuận hàng năm của toàn Dự án là 0,958 tỷ USD/năm, Thời gian thu hồi Vốn Đầu tư của Dự án sẽ là: 110,157 tỷ USD/(0,958 tỷ USD/năm) = 114,8 năm
-
Với
Lợi nhuận hàng năm của toàn Dự án là 0,797 tỷ USD/năm, Thời gian thu hồi Vốn Đầu tư của Dự án sẽ là: 110,157 tỷ USD/(0,797 tỷ USD/năm) = 138 năm
Chúng
tôi thấy những con số này rất ấn tượng,
và đáng suy nghĩ. Chúng phản ánh rất rõ ràng và rất khách quan hiệu quả
kinh tế của Dự án.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét