07 tháng 3 2013

Cần phân tích khách quan và định lượng tác động đến môi trường của 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6a

NĂM 2013 THÁNG 3 NGÀY 07
HASCON.NET

CẦN PHÂN TÍCH KHÁCH QUAN VÀ ĐỊNH LƯỢNG TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG CỦA 2 DỰ ÁN THỦY ĐIỆN ĐỒNG NAI 6 VÀ ĐỒNG NAI 6A

Tiến sĩ Nguyễn Bách Phúc
Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý TP. HCM HASCON
Viện trưởng Viện Điện - Điện tử - tin học EEI

     Vài năm lại đây, dư luận ồn ào về ảnh hưởng của Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đến môi trường, với 2 nhóm ý kiến trái ngược nhau. Nhóm thứ nhất cho rằng ảnh hưởng xấu là rất nghiêm trọng, đến mức yêu cầu phải hủy bỏ Dự án; nhóm thứ hai cho rằng ảnh hưởng xấu là không lớn, có thể khắc phục được, và ủng hộ hai Dự án này.

Nhóm thứ nhất, điển hình là Mạng sông ngòi Việt Nam VNR, báo Người Lao Động và TS Nguyễn Huỳnh Thuật, cán bộ của Vườn Quốc gia Cát Tiên. Nhóm này đã tổ chức Hội thảo ngày 7.8.2011, đăng tải rất nhiều bài báo về mặt trái của hai Dự án, lập trang web “Cứu lấy Cát Tiên” và vận động người Việt Nam ký tên phản đối Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.

Lập luận chính của nhóm thứ nhất có thể tóm tắt như sau:

1. Hai Dự án chiếm diện tích của Vườn Quốc gia Cát Tiên, tức là hủy hoại                        Vườn Quốc gia Cát Tiên.

2. Hai Dự án gây ra tác hại về thủy lợi cho Hạ lưu sông Đồng Nai như lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn…

3. Hai Dự án làm biến đổi sinh thái của vùng lòng hồ Thủy điện, nhất là làm mất chỗ sinh sống của một số loài Thú quý hiếm có trong sách Đỏ, dẫn đến diệt vong các loài Thú quý hiếm đó. 

        Nhóm thứ hai, điển hình là Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi Trường Việt Nam, đã tổ chức Hội thảo ngày30.9.2011, trong đó nêu rõ các mặt trái là không nghiêm trọng, có thể khắc phục được. 

        Chúng tôi xin bình luận về 3 lập luận của nhóm thứ nhất: 

1. Hai Dự án chiếm diện tích của Vườn Quốc gia Cát Tiên, liệu có hủy hoại  Vườn Quốc gia Cát Tiên? 

Theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, do Chủ đầu tư và Đơn vị Tư vấn là Viện Môi trường và Tài nguyên thuộc Đại học Quốc Gia TPHCM lập tháng 10.2012, thì diện tích đất của Vườn Quốc gia Cát Tiên bị chiếm như sau:

-        Thủy diện Đồng Nai 6 (trang xii): công trình có tổng diện tích thuộc VQG Cát Tiên là 86,43 ha. Trong đó:

+  Cấp đất vĩnh viễn là 82,94 ha (khu vực lòng hồ là 77,36 ha và khu vực công trình chính là 5,58ha),

+  Cấp đất tạm thời là 3,49 ha.  

-        Thủy diện Đồng Nai 6A (trang xv): chiếm 50,55 ha Vườn Quốc Gia Cát Tiên tại các tiểu khu 504B, 505, 506 xã Đồng Nai Thượng và tiểu khu 497, 540A huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng;

-        Như vậy, tổng diện tích mà hai Dự án chiếm của Vườn Quốc gia Cát Tiên là: 86,43 ha + 50,55 ha = 136,98 ha

-        Chúng ta biết tổng diện tích của Vườn Quốc gia Cát Tiên:

                                 theo Wikipedia Tiếng Việt là 71.920 ha (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%E1%BB%9Dn_qu%E1%BB%91c_gia_C%C3%A1t_Ti%C3%AAn),

                                theo website của Vườn Quốc gia Cát Tiên là 71.350 ha (http://www.cattiennationalpark.vn/show.aspx?cat=002008&nid=189),

-        Tỷ lệ diện tích đất mà hai Dự án chiếm của Vườn Quốc gia Cát Tiên, so với tổng diện tích của Vườn Quốc gia Cát Tiên là:

               136,98 ha/71.350 ha = 0,19% (chưa đến hai phần nghìn)

- Tính đến đây, thực tình chúng tôi không thể nào hiểu nổi các nhà phản đối lại có thể hùng hồn, cao giọng kêu gọi, kiến nghị hủy bỏ hai Dự án Thủy điện vì lý do chúng hủy hoại Vườn Quốc gia Cát Tiên, lẽ nào hai Thủy điện chỉ chiếm mất vỏn vẹn chưa đầy hai phần nghìn diện tích đất mà lại là kẻ hủy hoại Vườn Quốc gia Cát Tiên?

Đó là chưa kể đến: khi Vườn Quốc gia Cát Tiên nhường 0,19% đất đai cho Thủy điện, thì Nhà nước sẽ hoàn toàn có quyền mở rộng Vườn Quốc gia Cát Tiên lớn thêm hàng chục hàng trăm lần diện tích đã nhường. 

2. Hai Dự án có thể gây ra tác hại về thủy lợi cho Hạ lưu sông Đồng Nai như lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn…không? 

-        Các nhà phản đối, vì không có chuyên môn về Thủy điện, nên không biết một điều hết sức đơn giản của nghề Thủy điện là: chỉ có những hồ Thủy điện với dung tích hữu ích rất lớn, mới có khả năng tham gia vào công tác Thủy lợi. Dung tích hữu ích bằng dung tích hồ trừ dung tich chết, chính là lượng chứa nước mà hồ có thể điều tiết được, vào mùa lũ chứa nước lũ để giảm lũ cho hạ lưu, về mùa hạ xả nước dự trữ trong hồ để chống hạn và chống xâm nhập mặn cho hạ lưu, chế độ điều tiết các hồ này là chế độ điều tiết năm. Những hồ như thế mới được giao nhiệm vụ tham gia công tác Thủy lợi, nhiệm vụ này phải được giao ngay từ khi thiết kế, được giao vốn khi xây dựng và giao nhiệm vụ điều tiết hàng năm trong suốt tuổi thọ, Quy trình điều tiết này do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

-        Trên toàn cõi Việt Nam chỉ có 5 hồ Thủy điện là có khả năng tham gia công tác Thủy lợi và được giao nhiệm vụ Thủy lợi. Ví dụ, Thủy điện Hòa Bình có dung tích hồ chứa 9,45 tỷ mét khối, dung tích hữu ích là 5,65 tỷ m3, (dung tích chết 3,8 tỷ m3), nhiệm vụ số một là nhiệm vụ Thủy lợi, điều tiết nước hàng năm, phục vụ công tác Thủy lợi cho hạ lưu Sông Hồng vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhiệm vụ thứ hai là nhiệm vụ phát điện.

-        Ở Miền Nam, tại lưu vực sông Đồng Nai, Thủy điện duy nhất có khả năng làm Thủy lợi, và được giao nhiệm vụ kết hợp với hồ Thủy lợi Dầu Tiếng làm Thủy lợi, là Thủy điện Trị An. Đập chính và các đập phụ tạo nên hồ chứa nước rộng 323 km2 với dung tích tổng cộng 2,76 tỉ m3, dung tích hữu ích 2,547 tỷ m3, (dung tích chết 0,218 tỷ m3).

  (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_m%C3%A1y_th%E1%BB%A7y_%C4%91i%E1%BB%87n_Tr%E1%BB%8B_An). 

-        Còn các Thủy điện vừa và nhỏ, dung tích hồ không lớn, dung tích hữu ích thường rất nhỏ, hoàn toàn không có khả năng làm Thủy lợi, và vì vậy không bao giờ được giao làm nhiệm vụ Thủy lợi. Điều tiết các hồ này chỉ có thể theo chế độ điều tiết ngày. Điều tiết ngày chỉ là loại điều tiết đối với hoạt động phát điện, dung tích hữu ích quá nhỏ, không thể như điều tiết năm, vào mùa lũ chứa nước lũ để giảm lũ cho hạ lưu, về mùa hạ xả nước dự trữ trong hồ để chống hạn và chống xâm nhập mặn cho hạ lưu. Điều tiết ngày cũng có nghĩa là hoạt động của hồ Thủy điện vừa và nhỏ không gây ảnh hưởng gì đáng kể đến dòng chảy tự nhiên của dòng sông qua hồ Thủy điện xuống hạ lưu, kể cả lúc lũ và lúc hạn hán.

-        Dự án thủy điện Đồng Nai 6 có hồ chứa nước dài và hẹp, chiều dài khoảng 15km và chiều rộng trung bình khoảng 200m đến 300m, dung tích hồ 64,32 triệu m3, dung tích hữu ích là 15,51 triệu m3, (dung tích chết 48,81 triệu m3), chỉ có khả năng điều tiết ngày, tức là hoàn toàn không có khả năng làm nhiệm vụ Thủy lợi, không gây ảnh hưởng gì đáng kể đến dòng chảy tự nhiên của dòng sông qua hồ Thủy điện xuống hạ lưu, kể cả lúc lũ và lúc hạn hán.

-        Dự án thủy điện Đồng Nai 6A có dung tích hồ chứa 31,17 triệu m3, dung tích hữu ích là 9,67 triệu m3, (dung tích chết 21,5 triệu m3), gần bằng nửa dung tích hồ hồ thủy điện Đồng Nai 6, chỉ có khả năng điều tiết ngày, không có khả năng làm nhiệm vụ Thủy lợi, không gây ảnh hưởng gì đáng kể đến dòng chảy tự nhiên của dòng sông qua hồ Thủy điện xuống hạ lưu, kể cả lúc lũ và lúc hạn hán.

-     Ngoài ra, hai hồ Thủy điện này có dung tích hữu ích quá nhỏ so với hồ Trị An.

             Tỷ số giữa dung tích hữu ích của hồ Đồng Nai 6 với hồ Trị An là:

        15,51 triệu m3/2,547 tỉ m3 = 15,51 triệu m3/2547 triệu m3 = 0,609%

             Tỷ số giữa dung tích hữu ích của hồ Đồng Nai 6A với hồ Trị An là:

        9,67 triệu m3/2,547 tỉ m3 = 9,67 triệu m3/2547 triệu m3 = 0,38%

        Tỷ số giữa dung tích hữu ích của cả 2 hồ Đồng Nai 6 và 6A với hồ Trị An là:

               0,609% + 0,38% = 0,989%

             Xin lưu ý rằng Tỷ số này nhỏ hơn so với sai số 5% của các phép đo gần đúng thông thường, không đòi hỏi độ chính xác cao, nhất là đo đạc các đại lượng biến động.

-      Vì vậy, ảnh hưởng của hai hồ này đối với hồ Thủy điện Trị An là không đáng kể. Ngay cả trường hợp xấu nhất, là cả hai Thủy điện này không may bị vỡ, toàn bộ lượng nước ập vào hồ Thủy điện Trị An, thì cũng không ảnh hưởng gì đáng kể đối với hoạt động điều tiết lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn của hồ Trị An đối với hạ lưu sông Đồng Nai. 

3. Hai Dự án làm biến đổi sinh thái của vùng lòng hồ Thủy điện, nhất là làm mất chỗ sinh sống của một số loài Thú quý hiếm có trong sách Đỏ, dẫn đến diệt vong các loài Thú quý hiếm đó.

Chúng ta biết khu vực thượng nguồn Sông Đồng Nai là nơi sinh sống của rất nhiều loài quý hiếm, có tên trong Sách Đỏ của Thế giới.

Khi xây dựng Thủy điện, diện tích lòng hổ sẽ chiếm mất một phần diện tích sống của các loài quý hiếm, và đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến đời sống của các loài sinh tồn này.

Nhưng nói như vậy, chỉ là xác định về nguyên tắc, chỉ mang ý nghĩa định tính. Vấn đề cần thiết là phải xác định định lượng, cụ thể là: Loài động vật nào, chúng thường sống hoặc chỉ có thể sống ở vùng nào, diện tích vùng đó là bao nhiêu, Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A chiếm mất bao nhiêu diện tích sống của loài động vật đó, từ đó mới có thề kết luận chính xác mức độ nghiêm trọng của việc phá hoại môi trường sống của loài động vật đó.

Chúng tôi rất lấy làm tiếc là các nhà phản đối chỉ nêu ra nhận định, định tính chung chung, chưa hề nêu ra một con số cụ thể nào. Điều này rất nguy hại cho dư luận, bởi vì dư luận tin vào uy tín của các nhà Khoa học, cứ tưởng phát ngôn của các nhà khoa học là chân lý, và tất cả ồn ào theo, trong khi dư luận ít chú ý đến những thông tin định lượng, định lượng chắc chắn trên cơ sở Khoa học.

Chúng tôi cũng rất tiếc là, hai Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, do Chủ đầu tư và Đơn vị Tư vấn là Viện Môi trường và Tài nguyên thuộc Đại học Quốc Gia TPHCM lập tháng 10.2012, cũng không hề có những thông tin như nói trên.

Chúng tôi đề nghị bên phía các Nhà phản đối và bên Chủ đầu tư nên đưa ra thông tin chi tiết của mình, công bố rộng rãi cho công luận, thông tin có thể tóm tắt trong một bảng như sau: 

TT

Động vật

Diện tích sống, km2

Diện tích ngập trong hồ,km2

Diện tích sống còn lại, km2

Tỷ lệ diện tích còn lại, %

Kết luận

1

Tê giác

 

 

 

 

 

2

Bò tót

 

 

 

 

 

3

Voi châu Á

 

 

 

 

 

4

Gấu chó

 

 

 

 

 

5

Gấu ngựa

 

 

 

 

 

6

Trâu rừng

 

 

 

 

 

7

Hổ

 

 

 

 

 

8

Báo hoa mai

 

 

 

 

 

9

Nai

 

 

 

 

 

10

Báo gấm

 

 

 

 

 

11

Cá xấu Xiêm

 

 

 

 

 

12

Trăng gầm

 

 

 

 

 

13

Trăng đen

 

 

 

 

 

14

Cóc mắt chân dài

 

 

 

 

 

15

Cóc rừng

 

 

 

 

 

16

Cóc chàng Andecson

 

 

 

 

 

17

Đại bàng đen

 

 

 

 

 

18

Vịt trời cánh trắng

 

 

 

 

 

19

Chim mỏ sừng lớn

 

 

 

 

 

20

Hạc cổ trắng

 

 

 

 

 

21

Công

 

 

 

 

 

22

Ngang cánh trắng

 

 

 

 

 

23

Gà so cổ hung

 

 

 

 

 

24

Bướm phượng vàng

 

 

 

 

 

25

Bướm phượng kiếm

 

 

 

 

 

v.v…

 

 

 

 

 

Trong khi chưa có thông tin cụ thể, mọi người đều có quyền cho rằng các loài động thực vật quý hiếm phân phối đều trên khắp diện tích Vườn QG Cát Tiên, và vì vậy có thể kết luận rằng ảnh hưởng của 2 Thủy điiện đến các loài động thực vật quý hiếm cũng chỉ bằng tỷ lệ chiếm dụng đất đai của Vườn, tức là chỉ chưa đến 2 phần nghìn như đã phân tích ở trên.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét