Dãy núi Thiên Nhận nằm giữa 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, kéo dài chừng 15 Km, từ tây sang đông, kết thúc ở ngã ba Tam Sa, cuối huyện Hương Sơn đầu huyện Đức Thọ, mặt bắc là 2 huyện Thanh Chương và Nam Đàn, mặt nam là huyện Hương Sơn.
Hầu hết bà con quê ta Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay đều viết tên dãy núi này là “Thiên Nhẫn”, nhưng thực ra tên chính thức từ xưa là núi “Thiên Nhận”.
Vì sao lại có sự nhầm lẫn này?
Tiếng Nghệ An, Hà Tĩnh có một quy tắc: tất cả những từ mang dấu “ngã” thì người Nghệ Tĩnh lại phát âm thành dấu “nặng“, ví dụ từ “vĩnh viễn”, “mãi mãi” thì người dân nơi đây phát âm là “vịnh viện”, “mại mại”.
Với núi “Thiên Nhận”, người Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn phát âm đúng “Thiên Nhận”, nhưng với quy tắc nói trên, mọi người lại lầm tưởng rằng phải viết là “Thiên Nhẫn”.
Các thư tịch,văn thơ ngày xưa đều viết bằng chữ Hán, viết “Thiên Nhận” chứ không phải “Thiên Nhẫn”.
Với núi “Thiên Nhận”, người Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn phát âm đúng “Thiên Nhận”, nhưng với quy tắc nói trên, mọi người lại lầm tưởng rằng phải viết là “Thiên Nhẫn”.
Các thư tịch,văn thơ ngày xưa đều viết bằng chữ Hán, viết “Thiên Nhận” chứ không phải “Thiên Nhẫn”.
Xin đưa ra đây bốn bằng chứng:
1. Bài thơ “Lam Giang” của Đại Thi hào Nguyễn Du
Chữ Hán
藍江
清晨望藍江,
藍江漲秋水。
魚鱉遊丘陵,
牛馬迷涯涘。
圮岸崩暴雷,
鴻濤見奇鬼。
危險勝人心,
傾覆亦天意。
我望藍江頭,
寸心常惴惴。
常恐一失足,
汨沒無底止。
如何世間人,
乘險不知畏。
去者何滔滔,
來者尚未已。
帝德本好生,
那得長如是。
擬驅千仞山,
填平五百里。
Phiên âm Hán-Việt
Chữ Hán
藍江
清晨望藍江,
藍江漲秋水。
魚鱉遊丘陵,
牛馬迷涯涘。
圮岸崩暴雷,
鴻濤見奇鬼。
危險勝人心,
傾覆亦天意。
我望藍江頭,
寸心常惴惴。
常恐一失足,
汨沒無底止。
如何世間人,
乘險不知畏。
去者何滔滔,
來者尚未已。
帝德本好生,
那得長如是。
擬驅千仞山,
填平五百里。
Phiên âm Hán-Việt
Lam giang
Thanh thần vọng Lam Giang,
Lam Giang trướng thu thuỷ.
Ngư miết du khâu lăng,
Ngưu mã mê nhai sĩ.
Bĩ ngạn băng bạo lôi,
Hồng đào kiến kỳ quỷ.
Nguy hiểm thắng nhân tâm,
Khuynh phúc diệc thiên ý.
Ngã vọng Lam Giang đầu.
Thốn tâm thường chuý chuý.
Thường khủng nhất thất túc,
Cốt một vô để chỉ.
Như hà thế gian nhân,
Thừa hiểm bất tri uý ?
Khứ giả hà thao thao!
Lai giả thượng vị dĩ.
Đế đức bản hiếu sinh,
Ná đắc trường như thị ?
Nghĩ khu Thiên Nhận sơn,
Điền bình ngũ bách lý.
Dịch nghĩa
Thanh thần vọng Lam Giang,
Lam Giang trướng thu thuỷ.
Ngư miết du khâu lăng,
Ngưu mã mê nhai sĩ.
Bĩ ngạn băng bạo lôi,
Hồng đào kiến kỳ quỷ.
Nguy hiểm thắng nhân tâm,
Khuynh phúc diệc thiên ý.
Ngã vọng Lam Giang đầu.
Thốn tâm thường chuý chuý.
Thường khủng nhất thất túc,
Cốt một vô để chỉ.
Như hà thế gian nhân,
Thừa hiểm bất tri uý ?
Khứ giả hà thao thao!
Lai giả thượng vị dĩ.
Đế đức bản hiếu sinh,
Ná đắc trường như thị ?
Nghĩ khu Thiên Nhận sơn,
Điền bình ngũ bách lý.
Dịch nghĩa
Sông Lam
Sáng sớm, nhìn ra sông Lam,
Mùa thu, nước lên to.
Ba ba, Cá bơi trên bờ,
Ngựa trâu lạc mất lối.
Bờ sông lở ầm ầm như sấm,
Sóng dâng lên giống một bầy quỷ.
Thật nguy hiểm hơn lòng người!
Sụt lở cũng do ý trời!
Ta nhìn ra sông Lam,
Lòng những lo ngay ngáy.
Sợ không may sẩy chân,
Thì chỉm nghỉm xuống tận đáy sâu.
Thế mà sao người thế gian,
Cứ xông pha nơi hiểm nghèo mà không biết sợ?
Kẻ đi tới ào ào,
Người đi lại cũng không ngớt.
Trời vốn có đức hiếu sinh,
Sao để như vậy mãi?
Muốn xô đẩy núi Thiên Nhận xuống,
Lấp bằng năm trăm dặm dòng sông này!
Sáng sớm, nhìn ra sông Lam,
Mùa thu, nước lên to.
Ba ba, Cá bơi trên bờ,
Ngựa trâu lạc mất lối.
Bờ sông lở ầm ầm như sấm,
Sóng dâng lên giống một bầy quỷ.
Thật nguy hiểm hơn lòng người!
Sụt lở cũng do ý trời!
Ta nhìn ra sông Lam,
Lòng những lo ngay ngáy.
Sợ không may sẩy chân,
Thì chỉm nghỉm xuống tận đáy sâu.
Thế mà sao người thế gian,
Cứ xông pha nơi hiểm nghèo mà không biết sợ?
Kẻ đi tới ào ào,
Người đi lại cũng không ngớt.
Trời vốn có đức hiếu sinh,
Sao để như vậy mãi?
Muốn xô đẩy núi Thiên Nhận xuống,
Lấp bằng năm trăm dặm dòng sông này!
Câu trước cuối là: 擬驅千仞山 (Nghĩ khu Thiên Nhận sơn), Nguyễn Du viết chữ Hán là “千仞”(Thiên Nhận)
2. Thơ của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp
Sau khi vua Quang Trung mất, La Sơn Phu Tử về ở ẩn nơi chân núi Thiên Nhận, sát thành Lục Niên của Lê Lợi, ông mất tại đó, nay vẫn còn phần mộ của ông. Bài thơ sau đây ông viết khi ở ẩn, kể về non nước Nghệ Tĩnh, trong đó có núi Thiên Nhận 千仞山.
Chữ Hán
Sau khi vua Quang Trung mất, La Sơn Phu Tử về ở ẩn nơi chân núi Thiên Nhận, sát thành Lục Niên của Lê Lợi, ông mất tại đó, nay vẫn còn phần mộ của ông. Bài thơ sau đây ông viết khi ở ẩn, kể về non nước Nghệ Tĩnh, trong đó có núi Thiên Nhận 千仞山.
Chữ Hán
葵茶龍势极南冥
千仞山靑水共水
羣馬峯回臨路寨
雙虹泉揭隔溪城
六年弓劍英雄事
一枕煙霞隐遁情 Phiên âm Hán-Việt
千仞山靑水共水
羣馬峯回臨路寨
雙虹泉揭隔溪城
六年弓劍英雄事
一枕煙霞隐遁情 Phiên âm Hán-Việt
Quì, Trà Long thế cực Nam Minh
Thiên Nhận sơn thanh thủy cộng thanh
Quần mã phong hồi lâm lộ trại
Song hồng tuyền yết cách khê thành
Lục Niên cung kiếm anh hùng sự
Nhất chẩm yên hà ẩn độn tình
Dịch nghĩa
Thiên Nhận sơn thanh thủy cộng thanh
Quần mã phong hồi lâm lộ trại
Song hồng tuyền yết cách khê thành
Lục Niên cung kiếm anh hùng sự
Nhất chẩm yên hà ẩn độn tình
Dịch nghĩa
Mạch núi phủ Trà, phủ Quỳ đi mãi đến biển nam
Núi Thiên Nhận đá xanh, nước cũng xanh
Các ngọn núi hình như đàn ngựa đi quanh về trại gần đường
Hai luồng suối như hai cái cầu vồng, tiếng nước chảy nghe vọng bên kia thành
Sáu năm cung kiếm là sự nghiệp của vị anh hùng xưa
Một chiếc gối vui với khỏi mây là thú riêng của
Núi Thiên Nhận đá xanh, nước cũng xanh
Các ngọn núi hình như đàn ngựa đi quanh về trại gần đường
Hai luồng suối như hai cái cầu vồng, tiếng nước chảy nghe vọng bên kia thành
Sáu năm cung kiếm là sự nghiệp của vị anh hùng xưa
Một chiếc gối vui với khỏi mây là thú riêng của
3. Câu đối lớn nhất của nhà thờ họ Nguyễn, xóm Đò, xóm Trại, xã Sơn Tân, Hương Sơn, Hà Tĩnh, xã nằm dọc theo sông Phố 3 Km, ôm lấy chân núi Thiên Nhận.
Câu đối gắn trên 2 cột quyết của nhà thờ (hai cột chính, to, cao, hoành tráng, xây phía trước hai bên nhà thờ).
Câu đối này được các bậc đại khoa (bằng Tiến sĩ, Hội nguyện, Đình nguyên) triều đình Huế phụng tặng nhà thờ của tộc trưởng đương thời là Tế tửu (Hiệu trưởng) trường Quốc Tử Giám Nguyễn Quán:
Câu đối gắn trên 2 cột quyết của nhà thờ (hai cột chính, to, cao, hoành tráng, xây phía trước hai bên nhà thờ).
Câu đối này được các bậc đại khoa (bằng Tiến sĩ, Hội nguyện, Đình nguyên) triều đình Huế phụng tặng nhà thờ của tộc trưởng đương thời là Tế tửu (Hiệu trưởng) trường Quốc Tử Giám Nguyễn Quán:
Thọ mạch vạn niên Chân Thuỷ vượng
Khoa danh bách thế Nhận Sơn cao
Khoa danh bách thế Nhận Sơn cao
(籌)筹脉(萬)万年真水旺
科名百世仞山高
Dịch nghĩa:
Mạch thọ vạn năm vượng như dòng Sông Phố
Khoa danh trăm đời cao như núi Thiên Nhận
Tạm dịch:
Mạch thọ vạn năm Phố Thủy vượng
Khoa danh trăm thế Nhận Sơn cao
Ghi chú:
1. Thọ mạch: nghĩa là dòng mạch cao tuổi thọ, tựa như NÒI NGƯỜI CAO TUỔI THỌ, có gen cao tuổi thọ. Họ Nguyễn đã có ông tổ thọ 105 tuổi, được vua Tự Đức tặng tấm biển vàng đề hai chữ "THỌ DÂN", hiện đang treo trong nhà thờ.
2. Khoa danh: Khoa nghĩa là đỗ đạt cao, học vị cao; danh nghĩa là có danh tiếng lớn trong thiên hạ. Họ Nguyễn có cụ Nguyễn Quán là Tế tửu Quốc Tử Giám triều Nguyễn. Tế tửu là chức Hiệu trưởng, Quốc Tử Giám là Trường Đại học Quốc gia duy nhất trong thời phong kiến, nơi đào tạo những học trò giỏi nhất của đất nước và đào tạo Vương tôn quý tộc, thành những người lãnh đạo đất nước.
3. Chân Thủy: Nghĩa là dòng sông tên là Chân. Chúng tôi thắc mắc và lấn cấn mãi, "Chân Thủy" là dòng sông nào, có liên quqn gì đến dòng sông Phố ngày nay?. May mắn giữa năm 2015, ông Nguyễn Hữu Bính, con rể cụ Nguyễn Hoàn Viện ở xóm Trại xã Sơn Tân, Hương Sơn, Hà Tĩnh, chồng bà Nguyễn Thị Hải Quý, trong quá trình tìm hiểu lịch sử các dòng họ ở đất Nghệ Tĩnh, đã tình cờ gặp được một tác phẩm chữ Hán của một Vị tướng - Nhà văn Trung Quốc thời nhà Minh, tham gia các trận đánh nghĩa quân Lê Lợi ở Thành Lục Niên. Tác phẩm này là một ký sự viết về cuộc khảo sát hình thế núi sông, chung quanh vùng núi Thiên Nhận, nơi có Thành Lục Niên, trong đó gọi sông Phố ngày nay là Chân Thủy.
4. Nhận Sơn: Là núi Thiên Nhận. "Thiên Nhận" nghĩa là "núi cao ngàn nhận", "Nhận" là đơn vị đo chiều cao từ thời nhà Chu Trung Quốc, một Nhận cao chừng 1,6 mét ngày nay.
科名百世仞山高
Dịch nghĩa:
Mạch thọ vạn năm vượng như dòng Sông Phố
Khoa danh trăm đời cao như núi Thiên Nhận
Tạm dịch:
Mạch thọ vạn năm Phố Thủy vượng
Khoa danh trăm thế Nhận Sơn cao
Ghi chú:
1. Thọ mạch: nghĩa là dòng mạch cao tuổi thọ, tựa như NÒI NGƯỜI CAO TUỔI THỌ, có gen cao tuổi thọ. Họ Nguyễn đã có ông tổ thọ 105 tuổi, được vua Tự Đức tặng tấm biển vàng đề hai chữ "THỌ DÂN", hiện đang treo trong nhà thờ.
2. Khoa danh: Khoa nghĩa là đỗ đạt cao, học vị cao; danh nghĩa là có danh tiếng lớn trong thiên hạ. Họ Nguyễn có cụ Nguyễn Quán là Tế tửu Quốc Tử Giám triều Nguyễn. Tế tửu là chức Hiệu trưởng, Quốc Tử Giám là Trường Đại học Quốc gia duy nhất trong thời phong kiến, nơi đào tạo những học trò giỏi nhất của đất nước và đào tạo Vương tôn quý tộc, thành những người lãnh đạo đất nước.
3. Chân Thủy: Nghĩa là dòng sông tên là Chân. Chúng tôi thắc mắc và lấn cấn mãi, "Chân Thủy" là dòng sông nào, có liên quqn gì đến dòng sông Phố ngày nay?. May mắn giữa năm 2015, ông Nguyễn Hữu Bính, con rể cụ Nguyễn Hoàn Viện ở xóm Trại xã Sơn Tân, Hương Sơn, Hà Tĩnh, chồng bà Nguyễn Thị Hải Quý, trong quá trình tìm hiểu lịch sử các dòng họ ở đất Nghệ Tĩnh, đã tình cờ gặp được một tác phẩm chữ Hán của một Vị tướng - Nhà văn Trung Quốc thời nhà Minh, tham gia các trận đánh nghĩa quân Lê Lợi ở Thành Lục Niên. Tác phẩm này là một ký sự viết về cuộc khảo sát hình thế núi sông, chung quanh vùng núi Thiên Nhận, nơi có Thành Lục Niên, trong đó gọi sông Phố ngày nay là Chân Thủy.
4. Nhận Sơn: Là núi Thiên Nhận. "Thiên Nhận" nghĩa là "núi cao ngàn nhận", "Nhận" là đơn vị đo chiều cao từ thời nhà Chu Trung Quốc, một Nhận cao chừng 1,6 mét ngày nay.
4. Văn thơ khuyết danh:
Núi sông của Nam Đàn đã được người đời vẽ lên bằng những bài thơ, trong đó có bài:
“Nam Đàn gió thổi phi phong,
Núi non mây bá giăng mùng xung quanh.
Lam giang một giải xanh xanh,
Vòng quanh Nhận, Đụn băng mình về xuôi”.
Núi sông của Nam Đàn đã được người đời vẽ lên bằng những bài thơ, trong đó có bài:
“Nam Đàn gió thổi phi phong,
Núi non mây bá giăng mùng xung quanh.
Lam giang một giải xanh xanh,
Vòng quanh Nhận, Đụn băng mình về xuôi”.
Ở đây có 2 từ “Nhận” và “Đụn”. “Nhận” là núi Thiên Nhận, “Đụn” là núi Đụn, ở xã Vân Diên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, nơi Mai Thúc Loan khởi nghĩa chống nhà Đường Trung Quốc vào thế kỷ thứ VIII, lập triều đại Việt Nam độc lập và lên ngôi vua Mai Hắc Đế. Nay còn đền thờ Mai Hắc Đế ở đây.

No comments:
Post a Comment