Friday, September 14, 2018

TẠI SAO LÀ “THIÊN NHẬN”, MÀ KHÔNG LÀ “THIÊN NHẪN”

Hôm qua, chúng tôi đã đưa lên FB bài: “NÚI “THIÊN NHẬN” CHỨ KHÔNG PHẢI NÚI “THIÊN NHẪN””, lập tức có hàng chục lời bình, thích thú vì biết được sự thật này.
Duy nhất có 1 lời bình của thầy Mai Trọng Nhân:

Nhân Mai Trọng: Anh Phúc ơi, tôi thích nhất là cháu gái nào đó quảng cáo bài viết này, nhưng nói thật nhé, dân ta quen gọi Thiên nhẫn quá rồi, không muốn đổi dù chưa biết đúng sai. Ở xã Tùng Ảnh quê tôi truyền rằng có 1000 con chim phượng về đậu trên đỉnh núi, mỗi con một đỉnh, thừa một con bay sang Tùng Ảnh đậu tại núi Mồ côi. Như vậy trong dân đã ám chỉ Thiên nhẫn là ngàn đỉnh rồi.
Phúc Nguyễn Bách: Thưa thầy Nhân, thầy không biết chư Hán, sao dám nói "Thiên Nhẫn" là "ngàn đỉnh"?
Nhân Mai Trọng: Tôi có giám nói chữ Hán nhẫn nhịn đâu anh, tôi nói chuyện trong dân thôi, dân gian nói núi này có nghìn đỉnh. Còn giải thích của anh thì chuẩn không cần chỉnh nhé.
Thực ra chúng tôi chỉ muốn mọi người viết đúng tên của dãy núi quê hương, chứ không có ý giải thích tại sao là “Thiên Nhận” chứ không phải là “Thiên Nhẫn”. Nhưng vì qua lời bình của thầy Nhân, chứng tỏ còn rất nhiều người chưa hiểu bản chất của câu chuyện, buộc chúng tôi phải viết bài này để trình bày cho rõ
Ngày xưa, khi chưa có chữ Quốc ngữ, nước ta chỉ dùng chữ Hán. Vì vậy muốn biết “ Thiên Nhận” hay “Thiên Nhẫn” thì phải xét theo chữ Hán.
1. Trong tiếng Hán chữ "Thiên Nhẫn" là vô nghĩa:
Trong tiếng Hán có 6 chữ ”Thiên” :
- 天 Thiên là Trời, ví dụ: thiên nhiên, thiên đình, thiên tử.
- 千 Thiên là một nghìn, ví dụ: thiên niên kỉ, thiên hình vạn trạng.
- 偏 Thiên là nghiêng lệch, ví dụ: thiên vị, thiên lệch.
- 遷 Thiên là di dời, ví dụ: thiên đô.
- 篇 Thiên là một tác phẩm hoặc 1 phần của tác phẩm văn học, âm nhạc, ví dụ: thiên tiểu thuyết, thiên bạc mệnh (Truyện Kiều).
- 煽 Thiên là cái quạt
Trong tiếng Hán có 3 chữ ”Nhẫn”:
- 刃 Nhẫn là 1 loại vũ khí sắc nhọn
- 忍 Nhẫn là nhịn nhục, ví dụ: nhẫn nhịn.
- 忍 Nhẫn là độc ác, ví dụ: tàn nhẫn, nhẫn tâm.
Với 6 chữ “Thiên” và 3 chữ “Nhẫn” này không có cách nào để ghép thành 1 từ “Thiên Nhẫn” có ý nghĩa. Vì vậy người ta nói trong chữ Hán từ “Thiên Nhẫn” là vô nghĩa.
2. Trong chữ Hán có nhiều chữ: “Nhận”, tro đó có 2 chữ “Nhận” có thể ghép với “Thiên”, là:
- 認 Nhận là nhận biết, chấp thuận, bằng lòng.
- 仞 Nhận là đơn vị đo chiều cao, chiều sâu có từ thời nhà Chu, tương đương 1.6M ngày nay.
3. Nếu ghép 6 chữ “Thiên” với 2 chữ “Nhận” này thì sẽ có 2 kết quả có ý nghĩa:
- 千仞 Thiên Nhận có nghĩa là cao nghìn nhận.
- 天認 Thiên Nhận có nghĩa là Trời bằng lòng, Trời chấp nhận.
Như vậy, xét về ngôn ngữ, có thể có 2 chữ “Thiên Nhận” là có nghĩa. Đến đây muốn biết chữ nào là tên thật của dãy núi, thì chỉ còn cách tìm vào thư tịch cũ.
Cuối cùng chúng tôi đã tìm thấy 4 bằng chứng của thư tịch cũ, và xác định tên chính xác của dãy núi là “千仞 Thiên Nhận”

No comments:

Post a Comment