Wednesday, October 1, 2014

Tập thơ của PGS.TS Trần Xuân Sinh: Ký ức thời gian

PGS.TS Trần Xuân Sinh - Nguyên Trưởng phòng nghiên cứu Khoa học ĐH Vinh, Thành viên Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý Tp. HCM HASCON và Viện EEI. Xin giới thiệu tập thơ: "Ký Ức Thời Gian" của PGS.TS Sinh, Nhà xuất bản Nghệ An, xuất bản năm 2012.

TRẦN XUÂN SINH
Ký  øc thêi gian
  MỤC LỤC
1.  
Đôi lời góp nhặt...................................
05/2012
3
2.  
Nghiệp.................................................
10/2010
4
3.  
Cảm nhận............................................
05/2012
5
4.  
Lòng anh.............................................
09/1969
11
5.  
Em có hay...........................................
10/1969
12
6.  
Buổi ban đầu.......................................
11/1969
13
7.  
Em.......................................................
12/1969
14
8.  
Buổi chiều ấy.......................................
05/1970
15
9.  
Tình yêu..............................................
02/1971
16
10.          
Đến cùng em.......................................
05/1971
17
11.          
Thương em vào mùa thi……...............
06/1971
18
12.          
Đôi làng………………………...............
10/1971
19
13.          
Gác lại……………………….................
01/1972
20
14.          
Trường Sơn…………………...............
04/1972
21
15.          
Bài thơ viết ở chiến trường.................
05/1973
22
16.          
In vào mắt con………………...............
03/1974
24
17.          
Cầu mong cha………………...............
12/1974
25
18.          
Đồng đội…………………….................
05/1975
26
19.          
Trở lại trường……………….................
08/1976
28
20.          
Từ tâm………………………................
04/1977
29
21.          
Nhớ…………………………..................
04/1978
30
22.          
Gửi bạn………………………...............
06/1978
31
23.          
Quê chúng mình Bến Thủy.................
05/1980
32
24.          
Chính mình………………….................
12/1981
33
25.          
Em là hoa hậu nhất nhà......................
01/1982
34
26.          
Tình quê…………………….................
05/1982
35
27.          
Một ngàn…………………….................
04/1983
36
28.          
Thật - ảo…………………….................
12/1984
37 
29.         

Một thời vất vả………………...............
08/1985
38
30.         
Toán học cho ta…………….................
11/1986
39
31.         
Cong và thẳng………………...............
07/1987
40
32.         
Ngược……………………….................
09/1988
41
33.         
Thuận………………………..................
10/1988
42
34.         
Mong con……………………................
07/1989
43
35.         
Đất mẹ quê tôi………………...............
05/1990
44
36.         
Xa em………………………..................
07/1991
45
37.         
Quê bạn……………………..................
05/1992
46
38.         
Vợ và con……………………...............
08/1993
47
39.         
Đưa tiễn anh Hùng…………................
10/1993
48
40.         
Máy tính……………………..................
05/1994
49
41.         
Tưởng……………………….................
06/1994
50
42.         
Vô cùng………………………...............
09/1995
51
43.         
Thăm thành lục niên............................
07/1996
52
44.         
Cha hướng cho con………..................
03/1997
53
45.         
Mừng có cháu nội………….................
01/1998
54
46.         
Đời……………………………...............
01/1999
55
47.         
Muộn mằn……………………...............
11/1999
57


48.         
Tâm sự………………………................
11/1999
58
49.         
Cảm tạ………………………................
02/2000
61
50.         
Cảm ơn người………………...............
03/2000
62
51.         
Mẹ……………………………................
07/2000
63
52.         
Thăm lại chiến trường xưa..................
05/2001
65
53.         
Hùng ơi………………………...............
05/2002
66
54.         
Thành Vinh………………….................
10/2003
67
55.         
45 năm Đại học Vinh………................
11/2004
68
56.         
Được tin về hưu……………................
09/2005
69
57.         
Phút bù giờ………………….................
10/2005
70
58.         
Nhận thư anh…………………………..
11/2005
71 
59.          

Hạt giống thầy ươm………..................
03/2006
72
60.          
Khối chuyên Đại học Vinh…................
09/2006
73
61.          
Khen và chê…………………...............
10/2006
74
62.          
Mừng đám cưới vàng………...............
01/2007
75
63.          
Thói đời………………………...............
04/2007
76
64.          
Chè xanh……………………................
07/2007
77
65.          
Thực lòng……………………...............
03/2008
78
66.          
Con mãi là bé thơ………….................
04/2008
79
67.          
Nói chuyện trâu…………….................
02/2009
82
68.          
Mừng ông……………………...............
03/2009
83
69.          
Về với Đại học Vinh………..................
06/2009
84
70.          
Người mẹ thứ hai…………..................
10/2009
86
71.          
Mừng thọ anh T.……………................
02/2010
87
72.          
Hội đồng hương……………...............
05/2010
88
73.          
Nhận - cho…………………..................
10/2010
89
74.          
Bút bi…………………………..............
11/2010
90
75.          
Vào Hội cựu chiến binh.......................
12/2010
91
76.          
Tết làm thơ………………….................
01/2011
92
77.          
Tự giới thiệu…………………...............
02/2011
93
78.          
Bến Thủy ơi…………………................
03/2011
94
79.          
Ngẫm………………………………........
04/2011
95
80.          
Nói với con…………………………......
04/2011
96
81.          
Thi sĩ và trăng……………………….....
05/2011
97
82.          
Lời ru tháng năm.................................
05/2011
98
83.          
Nguyễn Huệ………………………........
06/2011
99
84.          
Vợ tớ………………………………........
08/2011
100
85.          
Tự sướng…………………………….....
09/2011
101
86.          
Quê hương…………………………......
11/2011
102
87.          
Nhớ bạn…………………………….......
12/2011
103
88.          
Cung chúc tân xuân………..................
01/2012
104  
89.          

Gặp nhau…………………………….....
01/2012
105
90.          
Mừng Xuân…………………………......
02/2012
107
91.          
Lộc đầu xuân………………………......
02/2012
108
92.          
Bốn mươi năm ấy…………………......
03/2012
109
93.          
Nhờ ơn người……………………….....
03/2012
110
94.          
Thăm Côn Sơn……………..................
03/2012
111
95.          
Gửi Trường Sa……………..................
04/2012
112
96.          
Biển đảo Hoàng Sa…………...............
05/2012
113
97.          
Đọc thơ em………………….................
05/2012
114
98.          
Muộn…………………………...............
05/2012
115
99.          
Ngỡ…………………………..................
05/2012
116
100.       
Thăm quê bạn………………................
06/2012
117
101.       
Mừng anh........................................
06/2012
118




Đôi lời góp nhặt
     
“Đương chức văn vẻ lờ mờ
Về hưu bỗng hóa “nhà thơ” nực cười”
      Dám đâu văn nghiệp như người
Với ta góp nhặt đôi lời vì yêu
      Trời còn có sớm có chiều
Thơ bao nhiêu chữ bấy nhiêu tấm lòng.



Nghiệp

Giảng đường, bốn tư năm lẻ,
        gắn bó với trường Vinh,
                   nghĩa tình còn nặng nợ.
Chiến trận, năm sáu tháng tròn,
       sẻ chia cùng đồng đội,
                  thương nhớ mãi khôn nguôi.
                    
10/2010


                
CẢM NHẬN

Tôi đọc thơ của anh Trần Xuân Sinh càng hiểu thêm về anh: Một thầy giáo, một chiến sĩ, một con người có tình yêu thủy chung, một con người biết dâng hiến và có trách nhiệm với gia đình, với dòng họ, với đồng đội, với những người thân quen.
Đúng như tập thơ anh đặt tên Ký ức thời gian, đúng như mấy câu thơ mở đầu “Đôi lời góp nhặt”, dẫu rất khiêm tốn nhưng đã nói lên dụng ý của anh: Đây chỉ là những ký ức thời gian của bản thân. Anh làm thơ do cảm xúc tự đáy lòng thay lời nói biểu lộ tình yêu. Anh viết thơ cho người yêu, anh viết thơ cho vợ và con, anh viết thơ cho những người thầy, người bạn, cho đồng đội. Anh viết thơ cho quê hương và dòng tộc, cho những người yêu mến của anh. Thơ của anh gắn liền với nghiệp của anh. Thứ tự của các bài thơ không theo chủ đề mà sắp xếp theo thời gian. Có thời gian anh làm nhiều, có thời gian hầu như ngắt quảng. Đó phải chăng là nốt thăng trầm của “nghiệp” theo thời gian.
Về đề tài tình yêu đôi lứa, với vợ con, anh dành nhiều bài viết nhất. Có lẽ đây là giai đoạn trai trẻ đầy cảm xúc và cũng là nhiều sự kiện đến với anh.
Với người yêu, anh đã thể hiện hết lời
Cũng như lòng anh
qua bốn mùa mưa nắng
Vẫn một lòng chung thủy cùng em
Và trắng ngần tha thiết tự trong tim.
Hoặc một lối ví von hết chổ nói
Có phải lòng anh đã thành tội lỗi
Có phải lòng em đã hóa quan tòa
Sao phải ngập ngừng những phút giây qua ...

Và tự mình chịu khuất phục trước tình yêu
Em là bông hoa đẹp nhất
Nở trong lòng anh thơm ngát tình đời
Em là bầu trời
ôm trọn mình anh bé nhỏ.
Chuyện tình không chỉ có vậy, khi đã nên vợ nên chồng, có con, anh cũng thể hiện hết trách nhiệm của mình. Trong bài Thực lòng, anh mạnh dạn nói ra như một lời xin lỗi vợ con
Băn khoăn tự nhủ
Anh vụng về em có buồn không.
Anh cưới vợ trong một hoàn cảnh đặc biệt. Trong bài Tạm gác cho thấy mặc dù anh chị đã yêu nhau từ thuở “thầy trò”, nhưng ngày làm lễ cưới đành gác lại vì anh lên đường nhập ngũ. Nghỉ phép mười ngày để ra chiến trường anh chị mới được nên vợ nên chồng. Ai đã trãi qua sự hy sinh trong chiến tranh mới thấy hạnh phúc đến thật không dễ. Trong bài Tâm sự anh đã bày tỏ
Ngồi bên em, anh sợ nói lời sàm gỡ
Bởi mai đi, chưa hẹn ngày về.
Mặc dù vậy, anh không hề bi quan, vẫn tin ở ngày chiến trắng
Hẹn cùng em ngày vui chiến thắng
Anh sẽ về bên mái ấm trường Vinh
Dẫu mất còn, quy luật của chiến tranh
Ta xây lại những gia đình hạnh phúc.
                           (Bài thơ viết ở chiến trường)
Điều kỳ lạ là tình yêu đã cho anh điều tiên đoán chính xác ngày trở về. Anh kể: Ngày mồng 1 tháng 5 năm 1972, đơn vị hành quân vào Nam. Trên đường đi, anh ghé về thăm vợ. Anh đã linh cảm được vợ chồng anh đã có con và anh đặt tên con là Hào.
Anh dặn vợ, “nếu sau 3 năm anh không trở về thì em được tự do”. Thật diệu kỳ, sau đúng 3 năm, ngày mồng 1 tháng 5 năm 1975, nhân một đợt đi công tác ra Bắc, anh trở về với vợ con
Đợi anh em nhé không lâu
Ba năm nối lại nhịp cầu hôm nay.
                       (Gác lại)
Sự thành đạt trong sự nghiệp cũng như hạnh phúc gia đình, anh luôn coi là nhờ “công vợ”
Đất nước thanh bình, còn bao việc bộn bề,
Lại tính toan, chắt chiu, góp nhặt
Lo cho con bút nghiên, ăn học,
Lo cho chồng sự nghiệp công danh,
Lo dựng nhà, che tạm mái tranh,
Mong bằng chị, bằng anh ngoài xã hội.
                              (Tâm sự)
Về chủ đề đồng đội, anh luôn tự nhắc mình không bao giờ được quên trong mỗi bài thơ. Như anh từng nói: “Mình làm việc, mình vui chơi, mình ăn ngủ, khi nào cũng nhớ về đồng đội, nhớ tới anh em ra đi chiến trường mà không trở lại”
Vì anh em bạn bè nằm lại chiến trường xa.
                                 (Con mãi là bé thơ)
Xin thắp nén nhang sau ngày chiến thắng
Tưởng nhớ các anh còn thiếu vắng hôm nay.
                           (Đồng đội)
Có những bài thơ khi đọc tưởng như lạc chủ đề, nhưng điều đó là thể hiện của tấm lòng anh, trong bài thơ Đời khi đang nói chuyện “đời” anh lại viết
  
Kẻ mất, người còn, những ai nhớ thương nhau?
Chữ lương tâm có còn ở trên đầu,
để như thuở hy sinh vì đồng đội?
Về chủ đề tình yêu mái trường, yêu thầy, yêu trẻ chúng ta có thể tìm thấy ở các bài Nghiệp, Trở lại trường, 45 năm Đại học Vinh, Hạt giống thầy ươm, Về với Đại học Vinh, Người mẹ thứ hai, Nhận – cho, Nhận được tin hưu ...
Anh không chỉ thể hiện tình yêu mái trường chỉ trong một số bài thơ, mà rải rác ở các bài thơ về chủ đề khác anh vẫn thường nhắc tới. Trong Bài thơ viết ở chiến trường gửi vợ, anh viết
Anh biết mái trường mới được dựng thêm
Đã bao năm lòng anh mong ước.
Hoặc
Hẹn cùng em ngày vui chiến thắng
Anh sẽ về bên mái ấm trường Vinh.
Về chủ đề quê hương, dòng tộc, gia đình, anh em ... anh cũng đề cập nhiều, tất cả với tấm lòng dâng hiến. Những thành công có được của anh và các con không chỉ cho riêng mình mà là vì quê hương, vì dòng họ, người thân ...
Trong công trình khoa học của con
Có dòng sông ngọn núi quê nhà …
Con biết mình Phải Gắng Sức
Vì hào khí Đông A
Vì nghề mộc của cha
Vì câu dân ca của mẹ
Vì tình yêu thương chia sẻ chốn quê nhà …
                              (Con mãi mãi là bé thơ)


Tôi được biết lý do tại sao anh viết hoa 3 chữ Phải Gắng Sức. Anh làm khoa học với học vị Phó Giáo sư (viết tắt là PGS), anh không muốn nói ra nhưng tôi hiểu rằng anh nỗ lực để có học hàm học vị như đã có là vì dòng tộc họ Trần, vì cha mẹ, vợ con, vì tình yêu thương từ anh em, bạn bè, bà con của anh.
Trong bài thơ Mong con anh cũng viết
Mong con khôn lớn bằng người
Đậu vào đại học, rạng người tổ tiên.

10
 
Anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân “thường thường bậc trung” sớm biết trọng cái chữ, biết hy sinh chăm lo cho con cái ăn học. Tình cờ có một lần tôi được đọc bài viết “Mự Lập – một hiện tượng văn hóa” của tác giả Trần Anh Thuận (đăng trên Tạp chí Văn hoá  Hà Tĩnh, số 122 (9/2008), trang 18-20), mới hiểu được đầy đủ về người mẹ của anh Trần Xuân Sinh. Mự Lập (mẹ của anh Sinh) là người phụ nữ giỏi giang, bà thuộc lòng nhiều ca dao tục ngữ và có tài đối đáp qua thơ ca hò vè. Được kế thừa khả năng của mẹ, anh cũng muốn được làm thơ. Tuy nhiên, cái nghiệp làm toán và dạy toán, cái gian lao vất vả của người lính trong chiến trận đã cuốn hút hầu hết thời gian sức lực của anh
Bốn tư năm lẻ say làm toán
Năm sáu tháng tròn tình nguyện quân
                                 (Tự sướng)
Với tư cách là một công dân mẫu mực, tình yêu của anh không giành riêng cho mình mà anh cũng đã ghi lại những cảm xúc, những tình yêu với thiên nhiên đất nước, với Đảng và Bác Hồ kính yêu. Anh tâm sự: Tôi cần ghi lại những bài thơ này là để cho con cháu mai sau hiểu được trách nhiệm, không được quên quá khứ, không được quên lịch sử.


Thơ anh viết không cứng nhắc ở một thể loại. Tùy theo cảm xúc và nội dung anh có thể chọn thơ tự do, thơ lục bát, thơ tứ tuyệt hoặc thơ thất ngôn bát cú … Mức độ dài ngắn của mỗi bài thơ cũng được anh chọn lựa. Có lẽ đó là đặc trưng phong cách của anh.
Đọc những vần thơ anh viết, tôi bắt gặp hầu hết nội dung toát lên cái triết lý giữa “nhận và cho”, giữa “dâng hiến và hưởng thụ”, giữa “nhân và quả”. Phải chăng đây là cái tư tưởng chủ đạo của anh!
Khép lại bài viết cảm nhận khi đọc thơ anh Trần Xuân Sinh, tôi xin phép nhắc lại mấy câu thơ mở đầu tập thơ
Dám đâu văn nghiệp như người
Với ta góp nhặt đôi lời vì yêu
Trời còn có sớm có chiều
Thơ bao nhiêu chữ bấy nhiêu tấm lòng.
Thực sự anh viết thơ vì tình yêu. Thơ của anh mang sắc thái ký ức thời gian làm quà tặng cho gia đình, bạn bè và người thân. Đôi lời cảm nhận xin được giới thiệu cùng độc giả. Có điều gì chưa phải mong tác giả và người đọc lượng thứ.
                               
                                    ĐẶNG VĂN BÌNH


Lòng anh

Anh viết cho em bài thơ
trên từng tờ giấy trắng
Cũng như lòng anh
qua bốn mùa mưa nắng
vẫn một lòng chung thủy cùng em
vẫn trắng ngần mà tha thiết tự trong tim.

9/1969


                   

Em có hay

Em mới đến ở nơi này
Những chiều hôm thích ngắm biển
Sóng quyện dưới chân em
Biển vỗ về âu yếm
Em gọi sóng lặng yên
Biển rì rào kể chuyện…

Em mới đến ở nơi này
Những chiều hôm thích ngắm biển
Và những chiều hôm em có hay
Nỗi lòng ai xao xuyến.
                         
10/1969




Buổi ban đầu

Gặp nhau đã nên quen
Mà sao lòng khó nói
Mỗi buổi sang chơi
một ánh mắt em cũng làm anh bối rối
Có phải lòng anh đã thành tội lỗi
Có phải lòng em đã hóa quan tòa
Sao mãi ngập ngừng những phút giây qua
Có phải tim anh đã thành biển sóng
Dào dạt bên bờ cát trắng ngày đêm
Mà vẫn bâng khuâng ôm một nỗi niềm

Cảnh vật đêm nay sao mà đẹp vậy
Anh muốn nói rồi, lạ sao chẳng nói
Mắt em vẫn nhìn hiểu nỗi lòng anh
- Câu chuyện chúng mình bè bạn xung quanh
Bàn tán xôn xao như hình họ biết

Hai đứa gần nhau trở thành thân thiết
Hai đứa xa nhau da diết nhớ thương.

11/1969




Em

Nếu hỏi: vì sao anh yêu em?
Anh trả lời chân thật :
- Em là bông hoa đẹp nhất
nở trong lòng anh thơm ngát tình đời
Em là bầu trời
ôm trọn mình anh bé nhỏ
Trái tim em đó
rất mực thủy chung
Và tấm lòng em
yêu quý vô cùng.

12/1969




Buổi chiều ấy

Chiều ấy, anh đến cùng em
Chúng mình trao ước hẹn
Trời mùa hạ, gió nồm nam thổi mạnh
Vẫn lắng nghe khúc hát trái tim

Tiễn anh về, mưa giữ chân anh,
Em nín lặng ngước nhìn qua cửa sổ
Đôi bướm nhỏ đậu trên cành hoa đỏ
Đang lẳng lơ như buổi mới xuân về

Ta hôn nhau gửi gắm một lời thề
Trời bừng sáng sau cơn mưa chợt tạnh
Luồng gió mát đưa thuyền về với bến
Và cho ta nốt nhạc tình yêu.

5/1970


Tình yêu

       Có yêu mới hiểu tình yêu
Yêu rồi ta nói những điều khác xưa
       Muốn gần nhau cả sớm tối chiều trưa
Xa nhau chốc lát đã mơ ngày gần.

2/1971




Đến cùng em

Anh đến thăm em một buổi chiều
Vội vàng để gió lọt vào theo
Say trong giấc ngủ mơ anh bước
Sát lại bên em ấm trải đều

Gió lọt vào trong, gió chẳng đừng
Làm em tĩnh giấc, ngỡ ngàng trông
Thẹn thùng để gió hôn lên ngực
Em sợ mình em mất thủy chung

Anh đứng bên em phút ngại ngùng
Gửi luồng gió mát thổi vào trong
- Ta mang hơi ấm hương thơm tỏa
Gửi đến cho em nụ hôn nồng.

5/1971



Thương em vào mùa thi
                Nước đục thì đã có phèn
            Chanh chua có muối, em hèn có anh
                                       (Ca dao)

Mấy hôm rồi anh không đến bên em
Bởi mùa thi khi ve sầu gọi nắng
Anh muốn để những phút giây yên lặng
dành cho em – cô giáo sắp vào đời

Đêm nay sao đầy trời
và sân cũng đầy trăng
Anh nhớ tới em nỗi nhớ mong da diết
Nếu chỉ là xa nhau,
      ta hãy xích lại gần thân thiết
Nếu chỉ là nhớ thương,
      ta thương nhớ thêm nhiều.
Anh biết em đang vất vả bao điều
     (như nhà nông bước vào mùa gặt)
Trước mắt em những đường cong cung bậc
Những cấu trúc tư duy trong khối óc nhỏ nhoi
Trời mùa hè, ướt đẫm mồ hôi
Em gắng sức để ngày mai hạnh phúc

Anh nén lại những phút giây cảm xúc
Chỉ thương em, không chia sẻ được cùng em.

6/1971



Đôi làng

Anh ở bên này sông
Em ở bên kia sông
Đôi xóm đôi làng chung dòng sông mát
Ngày xưa mẹ hát, ru ta trọn giấc mơ
- Cách sông nên phải lụy đò
Em muốn sang bên nớ, biết răng dừ được sang

Đôi xóm đôi làng, từ ngày thêm bốt giặc
Nhà cửa tan hoang, bến đò vắng ngắt
Bao chuyện tình cách trở dở dang
Lời hẹn đành để vào trong kỷ niệm
Con đò nhỏ đi tìm nơi đậu bến

Chúng ta sinh ra như duyên tình đã hẹn
Đôi làng xưa chung một nhịp cầu
Phiên chợ bên sông trai gái hẹn hò nhau
Điếu thuốc cơi trầu trao nhau sau điệu nhạc

Anh gặp em từ mái trường đại học
Về lại quê như chuyện của bao đời
Xin mẹ cha cho ta được kết đôi
Hai bờ sông chứng nhân lời ước hẹn.

10/1971



Gác lại

Tình yêu như giọt nắng vàng
Khi mây che khuất, giọt tan vào đời
Thiếp hồng anh đã gửi rồi
Chiều nay được lệnh ngày mai lên đường
Anh đi rong ruỗi chiến trường
Thương em ở lại hậu phương ngóng chờ
Ta đành gác lại ước mơ
Đợi ngày nắng đẹp anh về bên em
Giọt nắng còn ở trong tim
Tan mây, nắng lại đi tìm về nhau
Đợi anh em nhé không lâu
Ba năm nối lại nhịp cầu hôm nay(*).


1/1972

 


(*) Ngày 01/05/1972, hành quân qua nhà, tôi đã dặn vợ “Nếu sau 3 năm anh không trở về thì em được tự do. Ngày 30/5/1975 giải phóng miền Nam thì đúng ngày 01/05/1975 tôi ra Bắc công tác, được phép ghé về nhà.




Trường Sơn

Trường sơn một dãy núi giăng màn
Xanh biếc rừng cây trải bạt ngàn
Trắng núi mây trôi chiều chớm lạnh
Ta đi mới biết khúc quân hành.

Trường sơn róc rách tiếng suối tuôn
Đôi chim “trót bóp” gọi nhau buồn
Cánh võng đung chưa theo gió cuốn
Nhạc rừng man mác buổi chiều hôm.

Trường sơn dốc đá núi cheo leo
Tay cáng vai mang vẫn cứ trèo
Đồng đội dìu nhau lên đỉnh dốc
Chuyện vui lời tếu, miệng cười reo.

4/1972



Bài thơ viết ở chiến trường

Anh viết bài thơ đêm nay
giữa chiến trường lửa đạn
Căn hầm chữ A chớp lòe ánh sáng
Soi từng nét chữ lòng anh

Anh biết đêm nay hòa bình
Ngoài miền Bắc chắc có nhiều đổi mới
Ánh lửa sáng bừng chiếu rọi
Cột biểu đồ đi vượt cả thời gian

Anh biết miền Bắc chưa dễ ấm thân
Vẫn chắt chiu từng lon gạo bữa
Cho miền Nam và cho tất cả
Bưng bát cơm đầy anh nghĩ đến tình em

Anh biết mái trường mới được dựng thêm
Đã bao năm lòng anh mong ước
Ngày anh đi, trường cháy vì bom giặc
Về với núi rừng, em học lớn lên

Em là cô gái sinh viên
Đẹp như hoa rừng nắng sớm
Trong bom đạn hoa vẫn tươi sắc thắm
Em lớn lên nhiều qua mỗi bước em đi.

Anh biết đêm nay, một trang giấy anh ghi
Chưa nói hết lòng em miền Bắc
Bài toán hôm nay anh chưa giải được
Muốn nhờ em, cô giáo trẻ của anh
- Hạt gạo của ta để có được ngon lành
Qua mấy bàn tay chăm bón
Để hôm nay con người thêm sức lớn
Để ngày mai thành bom đạn diệt thù.
Bài toán giải chưa xong, anh đã tính thước đo
Tầm đại bác vươn dài trên đỉnh núi
Anh tính bằng lòng căm thù chất cháy
Và tính bằng sức trỗi dậy của miền Nam
Với miền Bắc hậu phương lớn muôn vàn

Anh viết bài thơ đêm nay
giữa chiến trường lửa đạn
Hẹn cùng em ngày vui chiến thắng
Anh sẽ về bên mái ấm trường Vinh
Dẫu mất còn - quy luật của chiến tranh
Ta xây lại những gia đình hạnh phúc
Đồng đội anh dẫu ai còn, ai mất
Để cho em khúc nhạc cuộc đời
Là tình người, thế đó em ơi.
                          
5/1973





In vào mắt con

     Bác ơi con hiểu lòng người
Nước còn chia cắt, cuộc đời chưa yên
     Con dâng dòng máu trái tim
Giữ gìn tổ quốc vững bền mai sau
     Đảng cho con đứng tuyến đầu
Giơ tay thề nguyện giữ màu cờ sao(*)
     Đêm nay ở dưới chiến hào
Lá cờ Đảng đã in vào mắt con.

20/3/1974
 


(*) 20-3-1974, Ngày vào Đảng.


Cầu mong cha

Tiễn con ra chiến trường, cha còn căn dặn
- Yên tâm mà đi, cha khỏe ở nhà
Ôi thời gian sao khắc nghiệt vậy cha?
Con chưa trở về, cha đã già “trăm tuổi”
Đau đớn thay,
con ở xa không được nghe một lời nhắn gửi,
không tiễn đưa cha về cõi vĩnh hằng
Trời đỗ mưa và đất cũng chuyển rung
Con cố nén để hành quân cùng đồng đội
Con thổn thức, khóc thầm mà không nói
Phải chăng cha đang dõi bước con đi?

Con cầu mong cha yên nghỉ chốn bồng lai
Để niềm vui cuộc đời cho con cháu
Tha thứ cho con đang làm nhiệm vụ
Chưa trở về thắp nén hương thơm
Chốn quê nhà, nơi cha đã ngủ yên
Ôi thương cha, nỗi đau này sao kể xiết
Con không dám nói lời vĩnh biệt
Vẫn muốn cha như đang ở trên đời
Dạy cho con lẽ sống làm người.

12/1974


Đồng đội

Vượt Trường sơn, đến chiến trường khói lửa
Hơn tháng ròng, cuốc bộ giữa rừng sâu
Nhạt muối, rau rừng, thịt hộp, gạo tàu
Cùng sên vắt, ngủ đêm trên cánh võng
Mấy đứa chúng mình đứa cùi, đứa cõng
Thương nhau hơn, không phân biệt “thầy – trò”

Tám thằng về “Đội bốn” nằm co
        trong căn hầm chữ A chờ lệnh
Sinh (thầy giáo) trong bộ râu bướng bỉnh
Hanh còn non, nhanh nhẹn sóc rừng
Da sữa tươi trắng trẻo là Tùng
Chuyện rôm rã tưng bừng là Lính (*)
Hiếu làn da mát lành như con gái
Quy cao kều cò sếu chân dài
Duyệt có duyên qua ánh mắt làn môi
Còn ít nói ít cười là Thiết

Mỗi đứa một nét riêng, nào ai biết
Nhưng cùng chung công việc “nhẹ nhàng”
“Trinh sát viên” tai mắt của Trung đoàn
Về “Đội bốn”, tám đứa thành đồng đội

Gặp các anh chỉ huy: , Thái, Sợi
Cùng anh em cũ, mới một lòng …
Tổ thọc sâu căn cứ giặc bên trong
Tổ tìm lối dẫn đường chiến dịch
Tổ trinh sát địa hình bám địch …
Mấy khi cùng đại đội gặp nhau
Đi không về, chỉ biết nén thương đau
Có đồng chí hy sinh,
       đồng đội chưa biết tên biết mặt
Có đồng chí nằm phơi thân xác
       bên bờ rào bốt giặc ngày đêm
Có đồng chí chấp nhận hy sinh
       trước giờ phút tin mừng giải phóng …

Xin thắp nén nhang sau ngày chiến thắng
Tưởng nhớ các anh còn thiếu vắng hôm nay
Lũ chúng tôi còn bảy đứa về đây
Vẫn nhớ hoài những người đồng đội.

5/1975

(*) Lê Công Lính, nguyên sinh viên khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Vinh, đã hy linh trong khi làm nhiệm vụ.





Trở lại trường

Giải ngũ, tôi nhanh bước đến trường (*)
Trong lòng rộn rã những tình thương
Tình thầy, tình bạn, tình quê cũ
Chắp cánh đi rồi vẫn vấn vương.

8/1976

 
(*) Ngày 01/8/1976, tôi chính thức trở lại giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Vinh.



Từ tâm

Đã biết mang theo nghiệp tại thân
Trách chi trời đất ngái hay gần
Thân trai chí lớn ôm thiên hạ
Phận gái đức hiền giữ đạo nhân
Vẫn biết thân hèn nên tại số
Mà say nghiệp lớn chẳng chùn chân
Cho hay vạn sự từ tâm cả
Sống để mà vui, bước chẳng vân.

4/1977



Nhớ

Nhớ từ cái thuở thiếu thời
Nhớ từng giọng nói, mắt cười của em
Nhớ từ “tiếng hát trái tim” (*)
Nhớ từng nhịp sống lặn tìm về nhau
Nhớ ai bắc nối nhịp cầu
Nhớ ai môi thắm miếng trầu giao duyên

Phải đâu anh chỉ nhớ em
Còn bao đồng đội chưa tìm được nhau
Biết bao nỗi nhớ bắc cầu.

30/4/1978
 


(*) Tên một bộ phim của Liên Xô.



Gửi bạn
                  
Bạn xướng ta hò, cứ thế, reo!
Rượu nồng, thơ đượm, kể chi nghèo
Hằng mong bạn hữu làm "rường cột",
Những tưởng anh em giữ "chốt kèo"
Được nước, thơ đầy, bình chẳng cạn
Sa cơ, sức kiệt, chí còn keo
Nhìn trong thế sự: so cao thấp
Một cuộc vần xoay "Mèo lại Mèo "!

6/1979




Quê chúng mình: Bến Thuỷ

Hết chiến tranh, anh về với quê em
Tìm kỷ niệm theo lời thề đã hẹn
Con đò nhỏ đưa anh tới bến
Bến Thuỷ ơi, trăm mến ngàn thương
Anh tìm em, khắp mọi nẻo đường
từ núi Quyết, xuôi về Bến cảng
Trải dài theo thời gian năm, tháng
Bến Thuỷ đổi thay từng phút từng giờ ...
                                   
Mái đầu anh, tóc đã bạc phơ
Bao kỷ niệm, nhớ về thời trai trẻ
Anh mới hiểu lời em, là lời tiên giáng thế
mách bảo anh về với quê em
ấm áp tình người, đẹp cảnh thiên nhiên
Là thế đó, quê “chúng mình”: Bến Thuỷ.

5/1980


Chính mình

Nhiều lúc ta quên cả chính mình
Nhờ Người nhắc, ta dật mình tỉnh ngộ
Có khi ta chìm trong gian khó
Nhờ Đức tin, ta vững bước vượt qua.

Mỗi con người đều có được ước mơ
Khi họ hiểu chính mình trong bè bạn
Mỗi con người đều trở nên thanh thản
Khi ước mơ có được bởi chính mình.

Dẫu ước mơ ta chọn đã thành hình
Quả đầu mùa chỉ mới là hứa hẹn
Xin cảm ơn Đức tin, cảm ơn bè bạn
Đã giúp ta quả ngọt đầy cành.

Chuyện giàu sang – tâm ở tại chính mình.

                                 12/1981





Em là hoa hậu nhất nhà

      Em ngồi thủ thì cùng anh
Sinh thêm con gái cho mình cho ta
     Có nếp có tẻ dung hòa
Chiều em anh cũng “mặn mà” chịu chơi
     Cho hay duyên số tại trời
Mong con gái sinh con trai đó mà
     Em là hoa hậu nhất nhà.

20/01/1982




Tình quê
              Kính tặng đồng hương xa quê

- Bạn bảo: Đã mấy năm,
chưa về thăm quê được
Nhớ Sơn Tân da diết
Nào ai có biết!
Quê hương có giận mình không?

- Tôi bảo:Tình quê giữ chặt đáy lòng,
đâu phải là khách sáo!
Ông cha mình dạy bảo:
“Tình người sâu cạn từ tâm!”.

5/1982




Một ngàn

Quý Hợi nhân duyên số một ngàn (*)
Một ngàn đồng bạc bán lợn non
Một ngàn vay mượn nơi bè bạn
Một ngàn viên gạch tự tay làm

Một ngàn mua xỉ vôi xây trát
cùng thêm vì sắt sẵn khung hàn
Một ngàn tre gỗ xà mái lợp
Một ngàn ngói đỏ được “vua” ban (**)

Một ngôi nhà nhỏ vừa xây cất
Quý Hợi nhân duyên số một ngàn.

                             4/1983

 


(*) Năm 1983, vợ chồng tự tay xây được ngôi nhà, với mọi cái cần có đều chỉ một ngàn.
(**) Ngói được mua theo giá cung cấp của nhà nước.




Thật - ảo

Trẻ và già
ranh giới không phân định

Hạnh phúc và bất hạnh
ranh giới vẫn dung hòa

Cái tốt và cái xấu
xem chừng không cách xa

Hòa bình và chiến tranh
vẫn nơi còn nơi mất ...

Cái hiển nhiên rất thật:
Vạn vật trời ban cho
Cứ ảo ảo mờ mờ.

12/1984




                                              

Một thời vất vả

Một thời vất vả với đồng tiền
Lương ít giá cao, kiếm việc thêm
Một mái nhà xiêu vừa đặt chõng
Một trang vở nhỏ đủ ghi tên (*)
Đêm về “trí thức” nên không ngủ (**)
Ngày đến “trí say” cũng chẳng phiền
Bọn bạn cười vui khen đáo để
Chúng mình hợp số lại nên duyên.

8/1985
 


(*) Ghi sổ nợ
(**) Từ dùng chỉ người trí thức phải lo kiếm sống, đêm “trí thức” (không ngủ để làm thêm), ngày “trí say” (ngày đến cơ quan thì ngủ say).




                           
Toán học cho ta

Toán học cho ta hiểu đời
bởi cộng trừ số học

Toán cho cho ta biết người
bởi lòng người dích dắc

Toán học cho ta ảo thực
đi suốt theo thời gian

Toán học cho ta siêu mặt
không dính chút bụi trần

Toán học cho ta ngẫu nhiên
để tìm ra cấu trúc

Toán học cho ta đích thực
để tìm ra lối mòn.

11/1986


                                
Cong và thẳng

Tôi đi ngành toán, thích đường cong
Dẫu nhọc mà vui, tính toán vòng
Cuộc sống lòng người đâu có thẳng
Đặt lên bàn tính thế là xong

Tôi đi ngành toán, thích làm thơ
Dẫu biết chưa hay vẫn ước mơ
Em hiểu tình tôi lòng vẫn thẳng
Nhìn vào đôi mắt để mong chờ.

8/1987


Ngược
Chạy đến tình yêu, tình yêu chạy khỏi
Chạy khỏi tình yêu, tình yêu chạy tới
                     (Ngạn ngữ Pháp)

Ta muốn ra chiến trường
Lại vào nghề dạy học (1)
Ta yêu nghề dạy học
Lại được ra chiến trường(2)

Ta muốn sống bình thường
Thì được phong quan chức(3)
Vui lòng nhận chức tước
Thì được làm dân thường (4)

Ta muốn được yêu thương
Phải sống trong xa cách
Ta chịu sống xa cách
Được gần em yêu thương...

9/1988
 


(1) Năm 1966; (2) Năm 1972; (3) Năm 1975; (4) Năm 1976.



Thuận
Thuận vợ thuận chồng
tát biển đông cũng cạn
                 (Tục ngữ)

Mặt trời
đi từ đông sang tây
Cây
lớn lên từ gốc
Nước
chảy vào chỗ thấp
Trứng
hình hài bào thai
Người
có tông có tổ
Thuyền
thuận buồm xuôi gió ...

Trái đất và vũ trụ
một hệ thống thuận hòa.

10/1988


Mong con

Cha ngồi thức suốt đêm dài
Quạt cho con ngủ, ngày mai thi rồi
Cha mong con được bằng người
Đậu vào đại học, rạng ngời tổ tiên.

7/1989



Đất mẹ quê tôi

     Ai về đất mẹ quê tôi
Tắm sông Ngàn phố, sải bơi thưa hè
     Núi Thiên Nhẫn đứng liền kề
Như con rồng cuốn nước về Sông La
     Xóm làng bồi đắp phù sa
Ruộng đồng bát ngát bốn mùa đẹp tươi
     Quê tôi ấm áp tình người
Khách về lưu luyến bồi hồi khó đi.

5/1990


Xa em

Xa rồi sao em
Chiều nay buồn lạnh ngắt
Mới hôm qua lặng lẽ chào nhau
nước mắt muốn trào tuôn
Em đi đâu, vào Nam hay ra Bắc
Nhớ gửi thư về thầy vẫn nhớ tới em
Em hãy bay đi như những cánh chim
Bay đi khắp mọi miền tổ quốc
Em sẽ là hoa của niềm mơ ước
Em sẽ là thơ của đất nước thân yêu
Nhớ nghe em, mẹ vất vả sớm chiều
Vẫn mong cho em bao điều hạnh phúc
Nhớ nghe em, thầy đêm nào cũng thức
Vẫn mong cho em vững bước ngày mai
Ta còn nghèo hạt gạo củ khoai
Nhưng ta có cuộc đời giàu trí tuệ

Em ra đi ươm mầm non thế hệ
Cho mái tóc thầy đốm bạc lại lên xanh
Xa em rồi thầy vẫn nhớ tới em
Mái trường đó hiểu nỗi niệm - im lặng.

7/1991




Quê bạn

Tôi đến nơi đây – cửa ngõ Vinh
Bâng khuâng quê bạn ngỡ quê mình
Cũng đường phố đẹp cây xanh biếc
Cũng mái nhà cao sơn trắng tinh
Cũng tấm lòng dân xây điểm sáng
Cũng tài trí Đảng chọn mô hình
Đã mười năm ấy Phường thành lập
Nghĩa Đảng lòng dân thắm nghĩa tình.

5/1992

Vợ và con

Bạn bè cầm tay chúc mừng
- Con lớn trưởng thành, vợ trẻ về hưu
Xin cảm tạ
Muôn lần xin cảm tạ!

Dẫu hôm nay còn gian nan vất vả
Cha vẫn vui sự nghiệp trồng người
Dẫu hôm nay chưa giàu có con ơi
Nhưng nơi ấy đất lành chim đậu
Cây có cội, lá cũng rơi về cội
Nhớ nghe con, công dưỡng dục sinh thành.

Em về hưu là để cho anh
Chịu “lặn lội thân cò khi quảng vắng”
Anh nhớ buổi ban đầu say đắm
Bởi yêu nhau nên chẳng tính giàu sang
Một túp lều tranh, hai trái tim vàng
Chỉ có vậy, ta làm nên hạnh phúc
Đời vốn lắm những nghĩ suy gai góc
Ta biết vượt lên làm đẹp cho đời

Vợ và con hạnh phúc ấy cho tôi
Xin cảm tạ
Muôn lần xin cảm tạ!

8/1993

Đưa tiễn anh Hùng

Anh đi rồi
Em chẳng được gặp anh
Chỉ biết nhìn cỗ quan tài đầy hương khói
Em gào lên, nước mắt trào, chẳng nói
Thương tiếc anh, muôn nỗi nhớ trong lòng
Cha mẹ nghèo, anh không được tới trường
Mà hiểu biết tinh thông sử sách
Mà nếm trải vinh hoa đất khách
Mà bôn ba thử thách muôn vàn.
Với gia đình, anh chẳng quản gian nan
Chị đi sớm, một mình anh gánh vác
Lo việc nhà lo cùng việc nước
Gà trống nuôi con cực nhọc trăm bề
Nay các con các cháu đề huề
Anh lại sớm về nơi tiên cảnh.
Với các em, nhiều đêm anh thức trắng
lo học hành, sự nghiệp, nhân duyên
lo cái bút cái nghiên ăn mặc.

Tiễn anh đi rồi các em đành nén khóc
Mong cho anh hưởng lạc chốn bồng lai.

10/1993



Máy tính

Máy tính ta nay đã sắm rồi
Ngày thì làm việc tối thì chơi
Văn văn nhấp nhấp trên đầu chuột
Gõ gõ hai tay sướng đã đời.

5/1994



Tưởng

Bầu trời anh tưởng vuông
Bà Nữ Oa vá đắp

Mặt đất anh tưởng vuông
Trời và trăng đuổi bắt

Biển nước anh tưởng vuông
Sóng xô bờ đầy ắp

Tình yêu anh tưởng vuông
Ngày lại ngày gặp mặt

Bàn tay ta nắm chặt
Tưởng bước khỏi hình vuông

Giật mình anh tỉnh giấc
trăng tròn căng trước ngực.

6/1994

  

Vô cùng

Người say rượu, đi tìm cái ngẫu nhiên
điều có thể trong vô vàn không thể
Người cờ bạc, đi tìm phép thử
cái thành công giữa vô số không thành

Ta tìm người tình trong thiên hạ mông mênh
Biết là ai trong vô vàn phép thử
Ta chưa say mà lòng ta vẫn thức
Để đến vô cùng, đích thực của tình yêu.

9/1995


Thăm thành Lục niên (*)

Trèo non vượt thác lúc bình minh
Toả nắng Lục Niên phút hiển linh
Thành quách đơn sơ thời lập nghiệp
Núi non trùng điệp thuở khai sinh
Giếng khơi trong vắt soi tiên nữ
Chiến luỹ quanh co giữ đất lành
Thành cổ còn đây, trang sử đẹp
Xin ai gìn giữ trọn ân tình.

7/1996

(*) Thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn (biên giới Hương Sơn -Nam Đàn), căn cứ 6 năm của Lê Lợi, lúc dựng cờ khởi nghĩa.
                                




Cha hướng cho con

Cha hướng cho con đi vào ngành Toà án
Bởi mong con khôn lớn trưởng thành
Vẫn biết cuộc đời cạm bẫy vây quanh
Phải ngang bằng khi cầm cân công lý

Cha hướng cho con hiểu cân bằng Tâm-Trí
Để công minh trước mỗi phiên tòa
Dẫu biết rằng gánh nặng đường xa
Và khó tránh “dĩ hòa vi quý”

Cha hướng cho con đi tìm gương chân lý
Cho con rõ hơn vị trí của chính mình
Dù sông sâu lên thác xuống nghềnh
Mắt vẫn sáng để nhìn ra sự thật.

3/1997





Mừng có cháu nội

       Mừng ta lên chức ông bà
Có thêm cháu nội cả nhà thêm vui
      Thương bà chẳng được nghỉ ngơi
Cháu ăn, cháu ngủ, cháu chơi nhờ bà

      Nhiều người lo nghĩ gần xa
Ở riêng con cháu mới là kế hay
     Tuổi già cần phải nghỉ ngơi
Thêm công thêm việc cuộc đời thêm lo

      Còn ta phước lộc trời cho
Ở gần con cháu mới là niềm vui
      Được ru cháu, nựng cháu cười
Đó là hạnh phúc cuộc đời trao ta.

04/01/1998



Đời

Đời là gì, ta chưa giám gọi tên,
Bởi ta bé, mà đời thì quá rộng
Ai đã qua một lần đời nổi sóng,
sẽ hiểu người, hiểu bạn, hiểu ta,
ai chân thành, ai xiên xỏ ba hoa!
Cứ biết vậy, bởi vì đời ngay thẳng

Cảm ơn ai đã hiểu ta trong cuộc sống,
thương yêu nhau, khi nổi sóng cuộc đời
Chia ngọt sẽ bùi, hạt gạo cắn làm đôi
Đời có nhân, ắt đời có quả

Và những ai chưa hiểu ta lòng dạ,
Xin hãy tin và yêu ở cuộc đời,
Lấy chữ tâm làm gốc rễ người ơi
Ta im lặng, xin để đời phán xét
                                                      

           

Đồng đội ơi,
chúng ta đã chung nhau những ngày oanh liệt.
Kẻ mất, người còn, những ai nhớ thương nhau?
Chữ lương tâm có còn ở trên đầu,
để như thuở hy sinh vì đồng đội?
Hiểu cho ta một tình yêu không mỏi,
Rất chân thành và rất mực thuỷ chung!
*
Đời cho ta cuộc sống đẹp vô cùng,
(Cái đẹp có ở trong lòng của bạn)
Ta hãy vui, đừng buồn, đừng hận,
Xây đắp đời nên tổ ấm thân thương
Đời có nhân - có quả lẽ thường!

1/1999






Muộn mằn

       Muộn mằn “bái tổ vinh quy”
Con xin được quỳ vái lạy tổ tiên
       Nhờ ơn phúc lộc bề trên
Năm mươi sáu tuổi, ghi tên bảng vàng (*)

11/1999

(*) Ngày 22/11/1999 bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Nhà nước.



Tâm sự
 (Nói cùng vợ sau khi xem phim
về đề tài chiến tranh)

Họ gặp lại nhau sau những năm chiến tranh
- Chuyện kể về một thời người con gái

Anh nín lặng hồi lâu chẳng nói,
Mắt lệ nhoà, nhớ lại những ngày qua
Bởi yêu nhau nên chẳng ngại gần – xa,
nghỉ phép mấy hôm, nên chồng nên vợ
Ngồi bên em, anh sợ nói lời sàm gỡ,
bởi mai đi, chưa hẹn ngày về
Anh ra chiến trường, em ở lại miền quê,
bao nỗi lo âu, bao niềm khát vọng
Dưới bom đạn, em đi về nơi xóm vắng,
một mình em, xe “cố vấn” đồng hành
Gia tài riêng, em giữ cho anh
là đứa con của chúng mình sau ngày cưới
Vẫn một mình em ngược xuôi lặn lội,
lo thuốc thang khi trái gió trở trời
Lên lớp giảng bài, con lót sẵn trong nôi,
và cậy trông vào người hàng xóm


Không như ai, con mình hay đau ốm,
mấy đồng lương sống đập đỗi qua ngày
Mẹ như con, còm cõi, hao gầy,
Biết cùng ai mà giải bày tâm sự?
Chẳng ai nói ra cái tin lành hay dữ,
mà hỏi hoài “Bố nó có thư không?”
Biết bao đêm em thấp thỏm chờ mong ...

Rồi đất nước hết chiến tranh
Ngày trở về, nhìn anh – em chẳng nói
Không như ai: vội vàng cầm hoa vẫy gọi,
Em dịu dàng, nép đợi cuối sân,
Ngắm nhìn anh, bên những người thân
và con trai trong vòng tay âu yếm
Phút bên nhau, em kể bao nhiêu chuyện,
như trẻ thơ gặp mẹ xa về ...

Đất nước bình yên, còn bao việc bộn bề,
Lại tính toan, chắt chiu, góp nhặt
Lo cho con bút nghiên, ăn học,
Lo cho chồng sự nghiệp công danh,
Lo dựng nhà, che tạm mái tranh,
Mong bằng chị, bằng anh ngoài xã hội





Chẳng phụ công em:
Các con học giỏi,
Anh gắng công theo đuổi học hành.
Dẫu chưa bằng như chị, như anh,
cũng đã có cái dành, cái để

Chẳng ai dám tự cho mình hoàn mỹ,
vẫn thành tâm cầu nguyện ơn Người,
vẫn tu tâm tích đức cho Đời,
vẫn hướng tới chân Trời rạng rỡ
Ta chung tay – thuận chồng, thuận vợ,
Vui cùng vui, gian khổ đồng lòng
Hạnh phúc tròn sau mỗi ước mong.

11/1999


Cảm tạ

Cảm tạ ơn ai một tấm lòng
Để đời gương toả sáng mênh mông
Nên thương, chẳng quản khi trâu ngựa
Bỏ ghét, hoà chung lúc rắn rồng
Giữ đạo trung trinh, lòng sáng đẹp
Cho đời thanh bạch, nước xanh trong
Ghi lòng tạc dạ ơn sâu nặng
Để sáng muôn đời, thoả ước mong.

                               02/2000

  
Cảm ơn người

Cảm ơn Người cho ta hôm nay
biết lắng nghe, biết sửa mình thêm đẹp
Mỗi mảnh đời có góc nhìn nhỏ hẹp
Mỗi con đường đều hướng tới tương lai

Cảm ơn Người cho ta hôm nay
biết yêu thương, biết trọng tình trọng nghĩa
Mỗi con người có bước đi riêng lẻ
Mỗi tấm lòng đều nghĩ tới ngày mai

Cảm ơn Người cho ta hôm nay
dẫu chưa giàu, cũng bằng bầu bằng bạn
Đời sẽ vui khi lòng ta thanh thản
Biết chắt chiu và làm đẹp cho đời.
                  
3/2000
  
Mẹ

Con về thăm quê
Tìm lại bến sông, nghe lời mẹ hát
     những lời đối đáp (*)
Ngồi lặng bên sông, nghĩ đến những ngày
     mẹ thân cò lặn lội
     để được yên thân giữa dòng đời cát bụi
     kiếm sống nuôi con, gần gũi bên chồng
Mẹ như hoa nở bên sông
Thuyền bè xuôi ngược
     bao khách làng chơi động lòng muốn hái
Mẹ tìm lời đáp lại
Vui lòng người mong đợi bến sông,
    hổ thẹn kẻ si tình chọc rắn trêu ong.




Con về thăm quê
Tìm lại bến sông, nơi một thời mẹ hát
Bến sông xưa đâu còn như thuở trước
Đâu thuyền bè xuôi ngược trên sông
Nước đã đổi dòng
Đâu còn câu hò đối đáp
Người với người trong tình chung hợp tác
Bát nước chè ấm áp làng quê
Bao cụ già kể về mẹ ...
Con nghe.

                           7/2000

(*) Xem “Mự Lập – một hiện tượng văn hóa”, Tạp chí Văn hoá  Hà Tĩnh, số 122 (9/2008), trang 18-20).



Thăm lại chiến trường xưa

Anh dắt em đi thăm lại chiến trường xưa
Nơi một thuở bom cày đạn xới
Nơi anh đã cùng anh em đồng đội
Phút bên nhau đến hơi thở cuối cùng

Mấy chục năm rồi đồng đội lặng thinh không
Nghe chim hót canh chừng giấc ngủ
Và cỏ cây tấm chăn dày ấp ủ
Đã lên xanh hoa nở bốn mùa

Em lặng im thắp nén hương đưa
Vào mây gió đồng đội nằm yên nghỉ
Và tự hỏi: Hạnh phúc là gì nhỉ?
Mà đồng đội hy sinh không nhận của riêng mình!

5/2001
  
Hùng ơi

Về đi Hùng ơi!
Phòng Khoa học nơi anh làm việc
Có tên anh và chỗ anh ngồi

Ngày ấy chúng mình đang độ tuổi ba mươi
Rời mái trường Vinh lên đường nhập ngũ
Tuổi thanh xuân nóng bừng ngọn lửa
Tổ quốc trao gian khổ cũng lên đường
Bọn chúng mình chung một chiến trường
Anh chiến đấu như một chàng dũng sĩ
Dẫu bị thương vẫn xông pha không nghỉ
Anh hy sinh từ trận mở màn

Chiến tranh qua rồi đồng đội cùng người thân
Trở lại chiến trường nơi anh nằm lại
Ngôi mộ anh bên cây gần dòng suối
Dưới đạn bom cày xới, có còn đâu
Hai tám năm ròng người mẹ nén thương đau
Thờ nắm đất nơi anh nằm yên nghỉ

Về đi Hùng ơi
Cha mẹ già mong đợi
Và các em thầm gọi tên anh.

5/2002


Thành Vinh

Nơi đây giặc Mỹ phá tan hoang
Dựng lại khang trang xứng Phượng hoàng
Phố đỏ vươn dài soi ánh điện
Quảng trường tấu nhạc hát ca vang
“Đất lành chim đậu” tài nên trí
“Nhân kiệt địa linh” đất hóa vàng
Mở cửa tầm nhìn ra bốn cõi
Thành Vinh đã sẵn những hành trang.

11/2003




45 năm Đại học Vinh

Kỷ Hợi năm nào, đã Giáp Thân (*)
Bốn lăm năm ấy, hãy còn gần.
Vươn mình trở dậy, như Phù Đổng
Đổi mới đi lên, tựa Thánh Nhân.
Mở cửa tầm nhìn, vươn tới thiện
Trau dồi hiểu biết, hướng về chân
Cây bền gốc vững xum xuê quả
Đẹp mãi Trường Vinh, toả ánh vân.

10/2004

 (*) Kỷ Hợi: 1959; Giáp Thân: 2004.





Được tin về hưu

     Hôm nay nhận được tin hưu
Dẫu rằng biết vậy, vẫn hiu hiu buồn
     Còn đâu cái tuổi thanh xuân
Mái đầu đã nhuộm tuyết sương một màu
     Về cùng thôn xóm, bạn bầu
Sống vui, sống khoẻ, sống lâu với đời
     Về đi thôi, về đi thôi
Vần xoay con tạo, ai người khác ai
      Bao năm say nghiệp trồng người
Nay về nhận quả nhỏ nhoi đời thường
      Ơn thầy, tình bạn, nghĩa trường
Ra về lòng vẫn vấn vương một thời...

9/2005


  
Phút bù giờ

       Bóng hay ở phút bù giờ
Chiến thắng quyết định chẳng ngờ chi nhau
       Tưởng đà thông báo nghỉ hưu
Ai còn bước tiếp nhịp cầu công danh (*)
       Trẻ còn sung sức đã đành
Ta còn nặng nghiệp học hành nhân duyên
       Chẳng tham chức tước hảo huyền
Chỉ đem dâng tặng tổ tiên ơn người
       Làm gương con cháu một thời.

10/2005

 


(*) Tính theo tuổi khai sinh thì tháng 10/2005 là nghỉ hưu. Vào đầu tháng 10/2005 thì có quyết đinh phong tặng Phó Giáo sư. Do vậy được tiếp tục làm việc thêm 5 năm.


Nhận thư anh

Nhận được thư mừng, sáng sớm nay
Bao lời ý đẹp của anh trai
Thay cha căn dặn, ghi trong dạ
Thế mẹ bảo khuyên, nhớ suốt đời
Bất úy bạo cường văn hóa vũ
Vô ưu bần tiện trí vi tài(*)
Công danh chút đỉnh ơn trên tặng
“Bất uý vô ưu” mãi nhớ lời.

11/2005
 


(*) Câu đối của anh trai Trần Văn Du tặng, nhân dịp được phong học hàm Phó Giáo sư.




Hạt giống thầy ươm (*)


Con biết Thầy mong muốn chúng con
Kỹ sư xây đắp những tâm hồn
Đôi dòng trong đục, lòng chung thuỷ
Một gánh càn khôn, dạ sắt son
Hạt giống Thầy ươm, tươi tốt mãi
Cây non con tưới, sắc xanh còn

Chúc thầy mạnh khoẻ, trên trăm tuổi

Đức sáng lưu truyền khắp nước non.

3/2006

(*)  Mừng thọ thầy Nguyễn Thúc Hào lên tuổi 95.




Khối chuyên
Đại học Vinh

Thuở ấy, khai sinh chốn Thạch Thành
Hầm sâu, bàn nứa, lớp che tranh
Ơn thầy, tình bạn trong gian khó
Nghĩa nước, lòng dân thấm ngọt lành
Học mãi nên tài, nên sự nghiệp
Rèn nhiều mới giỏi, mới thành danh
Bốn mươi năm ấy bao ân nghĩa
Giữ mãi mai sau kỷ niệm xanh.

9/2006



Khen và chê

Người rằng
     khen là nụ hôn thắm thiết
     để tình yêu chung một con đường.
Ta bảo hãy canh chừng
     khen là con đường có thể vào cõi chết.

Người rằng
     chê là dận hờn oan nghiệt
      để đoạt lộc tước quyền.
Ta bảo nghĩ vậy không nên
     chê là người bạn tình chung thủy.

Ôi khen chê sao mà khó vậy.

10/2006





Mừng đám cưới vàng

Con viết thơ mừng đám cưới vàng
Chúc thầy cô bách lão ninh khang
Năm mươi năm ấy tình chung thuỷ
Bảy chục xuân nay nghiệp vẻ vang
Con cháu đầy nhà mừng lễ thọ
Bạn bè sum họp đón xuân sang
Biết rằng thất thập “xưa nay hiếm”
Vẫn muốn thầy cô, mãi “lão làng”.

1/2007




Thói đời

Con đò đã sắp sang sông
Còn chen vào chốn bụi hồng vì ai
Thói đời há miệng mắc quai
Xem trong thiên hạ những ai thực lòng
Nói một nẻo, làm một đường
Ngẫm ra đạo lý luân thường khó bưng.

4/2007



  
Chè xanh

Em trao bát nước chè xanh
Mùi hương thơm tỏa cho anh say lòng
Chát mà ngọt, thực mà sang
Chạm môi đã thấy dịu dàng làn môi
Xa em đã mấy năm rồi
Nhớ em anh lại tìm nơi có chè.

7/2007



Thực lòng

Anh chưa một lần tặng em
bông hoa làm quà ngày phụ nữ.
Băn khoăn, tự nhủ:
Anh vụng về, em có buồn không!
Em bảo: chúng mình yêu nhau thực lòng,
đâu chỉ là hoa lá.
Với em, anh là tất cả
Cho em Hạnh phúc, Tình yêu.

                               08/03/2008



Con mãi là bé thơ
                      Kính tặng quê hương

Con chưa biết rõ quê hương
bởi con bé, mà quê hương trải dài lịch sử.

Thuở bé thơ,
Tiếng sáo diều hoà trong lời mẹ ru con ngủ,
Ngọn rau lang cũng hoá sữa nuôi con,
Sông Ngàn Phố giúp con nên khôn,
Núi Thiên Nhẫn cho con bền chí.

Lớn lên,
Bao câu hỏi “vì sao?”, “sao lại thế?”,
Để cho con bao kỷ niệm quê nhà!
Hạt gạo con ăn, thấm đậm giọt phù sa.
Bài hát con ca, mang nặng tình đất mẹ.
Chùa Phan linh thiêng, Người cứu nhân độ thế,
Đức Phật từ bi khơi sáng đạo làm người.
Nhà Thánh đầu làng, nơi Khổng Tử thức đời
Tính bản thiện trẻ thơ, nhớ ghi lời muôn thuở.
Đền Trúc uy nghiêm. Lặng im như nín thở
Người qua đường, “xuống ngựa”(1), cúi đầu.

  
Trưởng thành,
Xa quê hương, bao nỗi nhớ khắc sâu:
Muốn con cháu lớn khôn,
Nên cồn đất Người đặt tên cồn Nghiên, cồn Bút.
Nhà Thánh Huyện - nơi con được học
Chốn Đền Chùa - nơi tâm nguyện lòng con.
Trấn rừng sâu, nhớ ngọn khói chiều hôm,
Gác điểm tựa, mơ mái đình xóm nhỏ.
Con đã tới bao làng quê xa lạ,
Chẳng đâu bằng tình nghĩa quê hương.
Cuộc sống ngày nay,
Dẫu ở muôn phương,
Dẫu tiện nghi đủ đầy hơn thuở trước,
Sao quên được những người khó nhọc,
Đã nuôi con khôn lớn thành người.
“Hoa từ cây, lá cũng từ cây,
      hoa lá cỏ cây nhờ cội rễ.
Phú sinh lễ, bần diệc sinh lễ,
      phú bần lễ nghĩa tại tâm linh”(2).
                               

                   

Trong công trình khoa học của con
Có dòng sông, ngọn núi quê nhà
Có bánh đúc, bánh đa, tương, cà, mắm, nhút
Có đồng ruộng mênh mông, bốn mùa tươi tốt
Có cây đa mái đình, phiên chợ vùng quê
Có tình người, ...
Tất cả để hoá
Thành phép cộng nhân chia,
Thành máy tính vạn năng nâng tầm khoa học,
Thành thuật toán để xây đời hạnh phúc...

Con hiểu mình “Phải Gắng Sức”
Vì hào khí Đông A,
Vì nghề mộc của cha, vì câu dân ca của mẹ,
Vì tình thương yêu chia sẻ chốn quê nhà,
Vì anh em bạn bè nằm lại chiến trường xa ...

Xin cảm ơn Người, giành quả ngọt cho con.
Con mãi là bé thơ của người mẹ – Quê hương.

4/2008

(1) Hạ mã
(2) Câu đối của ông Trần Văn Du.




Nói chuyện trâu

Kỷ Sửu vào Xuân nói chuyện Trâu
Kéo cày tận tuỵ với nhà giàu
Còng lưng uốn gối trên đồng vắng
Gắng sức vươn mình dưới ruộng sâu 
Tối tối cùng Bò nhai chút cỏ
Chiều chiều gặp Nghé nghểnh cao đầu
Cho hay tại số mà nên cả
Kẻ có, người không, đâu khác Trâu!

Xuân Kỷ Sửu – 2009




Mừng ông (*)

Tạo hoá vần xoay vốn lẽ trời
Nghĩa tình vàng đá đẹp mười mươi
Dòng thơ vẫn ngọt nơi nhân thế
Bụi phấn còn vương chốn bạn chơi 
Tính việc gia tiên, tròn hiếu phận
Lo nghề con cháu, trọn tình đời
Bình thơ, vịnh nguyệt, lòng thanh thản
Chúc thọ mừng Ông hoa đẹp tươi.
        
                             3/2009
 


(*) Thơ mừng thọ thông gia.
           

                 
Về với Đại học Vinh    

Tôi tới trường,
      trước phòng truyền thống,
           nghiêm trang, im lặng
Khoảnh khắc
Kỷ niệm ùa về, thầm nhắc
Năm mươi năm, tình nghĩa vơi - đầy
Đại học Vinh
Bao lớp người đã từ đây
Như những viên gạch:
bao nhiêu viên xây nên lớp học
để ươm mầm thế hệ tương lai?
bao nhiêu viên làm đá lát cho đời
để những con đường thẳng tắp?
bao nhiêu viên lặng im, nằm dưới lòng đất
cho nền móng vững bền, nâng đỡ mái trường Vinh?
Hoà bình và chiến tranh:
bao nhiêu người thành danh
bao nhiêu người ngã xuống
cho sân trường sắc thắm cờ bay?




  

Quá khứ cho hôm nay
     lòng thành xin tưởng nhớ
Lời tâm nguyện là lời nhắc nhở
     sống thuỷ chung, chia sẻ ngọt bùi
                
Kỷ niệm ùa về, nối quá khứ với tương lai
Năm mươi năm
Đại học Vinh, sâu tình, nặng nghĩa.

6/2009
 
                                   
    
Người mẹ thứ hai

Tôi lớn lên, khi mẹ đã đi xa
Người mẹ thứ hai nhận tôi về sưởi ấm
Tôi trưởng thành giữa tình bè bạn
Sống thuỷ chung, ân nghĩa vẹn tròn
                        
Chiến tranh, mẹ lại tiễn đưa con
Oà bật khóc, phút chia tay rơi lệ
Tôi lên đường, mang lời thề với mẹ
Ngày trở về trong khúc khải hoàn ca
                        
Đại học Vinh, lòng mẹ rộng bao la
Chở che con qua mưa bom bão đạn
Trí tuệ ươm mầm từ mái trường sơ tán
Để hôm nay nảy lộc đâm chồi
                        
Đại học Vinh, người mẹ thứ hai
Nuôi dạy bao đứa con khôn lớn
Năm mươi năm, còn biết bao bề bộn
Mẹ đón con về, cùng bè bạn bốn phương.

10/2009
     

  
Mừng thọ anh T.

Song thọ, mừng Anh – Chị vẹn tròn
Vợ chồng vui với cháu cùng con
Anh em hội ngộ, tình sâu nặng
Bạn hữu sum vầy, nghĩa sắt son 
Một tấm gương trong soi toả sáng
Ngàn lời chúc tụng tựa cao non
Mong anh thượng thọ trên trăm tuổi
Để sáng lung linh ánh nguyệt tròn.

2/2010




Hội đồng hương

Ai ơi sinh hoạt Hội đồng hương
Là Hội chung vui đâu kể lương
Đi họp thiếu đầy không quở trách
Góp tiền nhiều ít chẳng tuyên dương
Tình quê ấm áp lời muôn thuở
Nghĩa phố thân thương chuyện lẽ thường
Cháu chắt mai ngày về họp mặt
Biết ơn tiền bối đã nêu gương.

5/2010

Nhận - cho 

Về hưu, nhìn lại chính mình
Bao nhiêu cái nợ nghĩa tình “nhận – cho”
Tình bè bạn, nghĩa thầy trò
Bạn luôn chia sẻ nỗi lo chuyện buồn
Bạn còn nằm lại chiến trường
Cho ta cuộc sống đời thường đẹp hơn
Thầy gieo trí tuệ tâm hồn
Cho ta hạnh phúc, nặng ơn nghĩa thầy
                          
Ngẫm xem tạo hóa vần xoay
Tre già măng mọc đổi thay lẽ đời
Tình chia sẻ, nghĩa đong đầy
Nhận - cho, vay - trả, trả - vay lẽ thường
                          
Về hưu nghe tiếng trống trường
Bâng khuâng nhớ bạn, vấn vương nghĩa thầy.

10/2010
 
(*) Ngày 20/10/2010 bắt đầu nghỉ hưu.



Bút bi

Ngòi hỏng, bút bi thương mến ơi!
Bao năm ngó ngoáy, mực vơi rồi
Phẩm hàm như thế đòi chi nữa
Vỏ cứng làm gì, phải vứt thôi.

11/2010





 Vào Hội Cựu chiến binh

Làm ăn buôn bán ở nơi đâu
Vào Hội khi ta tóc bạc đầu?
- Chiến trận: bom rền, còn vững chí
Giảng đường: phấn trắng, vẫn bền lâu
Bốn tư năm lẻ lo danh - nghiệp
Năm sáu tháng tròn trấn ải - sâu
Gặp mặt chung vui tình bạn hữu
Về hưu đồng đội nhớ về nhau!  
                   
22/12/2010




Tết làm thơ

Thơ hay ý đẹp chẳng đâu xa
Ở tại lòng ta, ở mọi nhà
Đón tết, làm thơ mừng các cụ
Chào Xuân, hái lộc chúc toàn gia
Câu thơ, khúc nhạc cùng mây nước
Chén rượu, thịt gà với bánh đa
Một mảnh tình riêng không thể dứt
Xuân về thơ quấn quýt cùng ta.

                  Xuân Tân Mão - 2011




Tự giới thiệu

Kính cụ, xin cho tỏ một phần!
Tôi người Hà Tĩnh, xã Sơn Tân.
Xuân Sinh danh thiếp, thật tên gọi,
Dòng dõi Đông A, chính họ Trần. 
Bốn bốn năm tròn, lo dạy toán,
Năm lăm tháng lẻ, nguyện tòng quân.
Những mong thi hữu cho vào Hội (*),
Để được làm thơ, nói tiếng dân.

Xuân Tân Mão - 2011

(*) Ngày dự Hội thơ.




Bến Thuỷ ơi !

Kỷ niệm ngày sinh Bến Thuỷ ơi (*)!
Bài thơ con viết kính dâng Người.
Sông Lam gợn sóng, chào xuân cảng,
Núi Quyết vươn mình, đón gió khơi.
Phố xá vươn dài vui mở hội,
Lòng người chung sức hướng tương lai.
Thênh thang đường rộng, ta đi tới,
Đẹp lắm quê mình, Bến Thuỷ ơi.

                         Bến thuỷ,  3/2011
 


(*) Kỷ niệm 10 năm thành lập Phường Bến Thuỷ.



Ngẫm
                                                 
Bao năm say nghiệp, tóc pha sương,
Phương cảo theo ta suốt giảng đường.
Gắng sức vun trồng cây trí tuệ,
Chung lòng gìn giữ gốc quê hương.
Bao điều suy ngẫm tình phai nhạt,
Một nỗi buồn lo nghĩa khác thường.
Dẫu biết cuộc đời là thế thế,
Lòng ta vẫn sáng một vầng dương.
              
4/2011
                         



Nói với con

Đói khổ lầm than dãi gió sương
Nhờ ơn Đảng, Bác dẫn đưa đường
Vươn mình xoá kiếp làm nô lệ 
Mở cửa cho dân biết tự cường
Cuốc đất, ươm cây bền gốc rễ
Tu tâm, tích đức đẹp cương thường
Con ơi kiếm ngọc trong nhân thế
Đổi mới tầm nhìn vượt đại dương.

04/2011


Thi sĩ và trăng
                                               
Vầng trăng - đĩa ngọc lấp trong sương
Rét ngọt cùng ta mấy dặm đường
Chén rượu ngà say, quên tuổi hạc
Câu thơ tỉnh mộng, nhớ quê hương
Ngâm nga dăm chữ bao lời đẹp
Viết lách vài câu mấy chuyện thường
Thi sĩ tri âm cùng ánh ngọc
Vui ngày mai đón một vầng dương.
                     
5/2011




Lời ru tháng năm

Cháu ngoan, cháu ngủ với bà
Để ông còn viết bài ca chào mừng
Tháng Năm ngày hội non sông
Mẹ cha còn bận việc công chưa về
Cháu ngoan, bà kể cháu nghe
Xưa kia dân nước trăm bề khổ đau
Nhờ ơn Bác, Đảng đi đầu
Dẫn đường cách mạng, mạnh giàu hôm nay
Tháng Năm, khắp chốn đó đây
Vui kỷ niệm ngày Bác đã sinh ra
Tháng Năm nô nức gần xa
Cùng đi bầu cử chọn ra nhân tài
Thay dân lo việc trong ngoài
Dân giàu nước mạnh sáng ngời niềm tin
Để cho cháu được học hành
Để cho bà được ngọt lành lời ca
Cháu ngoan, cháu ngủ với bà!

05/2011



Nguyễn Huệ

Nguyễn Trịnh phân tranh Nam Bắc Gianh
Đớn đau chia cắt nước non mình
Vua quan thối nát lo vơ vét 
Quân sĩ ngu si sợ tập tành
Thương nước ra tay tàn bạo xoá
Vì dân quyết chí nước non dành
Phượng Hoàng đất thánh nên chim đậu
Nguyễn Huệ - Trung Đô xây dựng thành.

6/2011



Vợ tớ

Tớ cũng như ai: vợ “đẹp, sang”
Người khen thước ngọc với khuôn vàng
Ôsin tận tuỵ, không lương bổng
Thầy thuốc chăm lo, chẳng bậc thang
Một cỗi thung huyên, tròn nghĩa thiếp
Đông vui hoè quế, trọn tình chàng
Cho hay trăm sự nhờ công vợ
Hãy nhớ nghe lời, chớ cãi ngang!

8/2011

       
Tự sướng

Cha mẹ cho ta tuổi Giáp Thân
Về hưu ngó lại ngỡ như gần
Bốn tư năm lẻ, say làm toán
Năm sáu tháng tròn, tình nguyện quân
Chỉ biết trung thành chăm việc nước
Mà không toan tính bước chen chân
Đồng lương góp nhặt cho con cháu
Tự sướng mình ta, chẳng thiệt thân.

9/2011

  
Quê hương

Ngàn Phố êm đềm nước chảy xuôi
Sơn Tân - Thiên nhẫn, tự bao đời
Xóm làng đông đúc, tưng bừng hội
Đồng ruộng mênh mông, bát ngát trời
Ánh điện lung linh, vui khúc nhạc
Tình quê nồng thắm, ấm lòng người
Ta đi muôn nẻo, bao nơi đến
Chỉ thấy quê mình thật thảnh thơi.

11/2011
 


Nhớ bạn

Người tặng cho ta một khóm nhài
Bên thềm kết bạn với đào mai
Ly trà hương toả, se trời lạnh
Chén rượu thơm nồng, heo gió may
Nhớ bạn, nhìn hoa tường vẻ đẹp
Yêu thơ, thưởng nguyệt tựa bồng lai
Khung trời cửa sổ mênh mông quá 
Hoa biết ta ngồi nhớ tới ai?

12/2011




Cung chúc tân xuân

Cung bậc Nhâm Thìn đã bước sang
Chúc mừng năm mới, Tết đàng hoàng
Tân tài, tân lộc giàu nhân ngãi
Xuân nhạc, xuân thơ mãi hát vang
An hưởng cho già tâm mạnh khoẻ
Khang ninh để trẻ nghiệp vinh quang
Thịnh hành giáo lý đường trung chính
Vượng khí non sông tụ phím đàn.
                         
Xuân, 1/1012



Gặp nhau

Bốn mươi năm rồi (1)
hôm nay mới được gặp nhau
Tay cầm tay, niềm vui trào nước mắt
Hai trăm năm mươi (250) chàng trai
“Ta ra đi từ một mái trường(2)
Thầy và trò chung tình thương: Đồng đội
Ngày trở về biết bao thay đổi
Ai còn, ai mất
Cùng điểm mặt ghi tên
Tranh nhau kể chuyện
Sáu mươi hai (62) anh em vĩnh viễn không về (3)



Chúng tôi
Những đồng đội cùng ra đi
Nay được trở lại trường
Xin thắp nén hương tưởng nhớ
“Mời các anh lên ghế trên còn để ngỏ
Các anh ngồi, cho chúng tôi ngước nhìn lên! (4)

Chúng tôi
Những đồng đội cùng ra đi
Nay được trở lại trường
Xin cảm ơn tình thương từ đại học
Bao thầy cô đã gắng sức
Cho chúng tôi hôm nay
Ngày trở về tay nắm chặt tay.

                     1/2012
 


(1) Ngày 11/01/1972 có 250 thầy trò nhập ngũ
(2) Tên một bài thơ của thầy giáo Nguyễn Đình Kiểu
(3) Số liệt sĩ đợt nhập ngũ lần này đã được biết
(4) Ý thơ của GS.TSKH.Trung tướng Phạm Thế Long
(nguyên sinh viên khoa Toán, khóa 11) trong bài thơ
 “Với bạn cùng là lính cũ trung đoàn”.


Mõng Xu©n

Mừng Xuân, ta hát một bài ca
Mừng xóm chung vui nghĩa thiết tha
Mừng khối kết đoàn thêm sức mạnh
Mừng phường giàu đẹp chiếm phần đa
Mừng đàn cháu nhỏ xuân phơi phới
Mừng các cụ vui tuổi ngọc ngà
Mừng tứ thơ ta giang cánh rộng
Mừng Xuân, xúc cảm hoá lời ca.
                     
Xuân, 2/1012




Lộc đầu xuân
                           
Tết về ta đón lộc đầu Xuân (*)
Nghị quyết Trung ương đã chuyển vần
Đổi mới, vì dân, xây dựng Đảng
Đường đi rọi sáng áng hồng vân.

2/2012

(*) Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI:“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.


                        

Bốn mươi năm ấy
    (Kỷ niệm 40 năm ngày cưới)

Ta còn nhớ buổi ban đầu
Anh gần em bởi sắc mầu yêu thương
Những lần anh tới giảng đường
Cô sinh viên nhỏ “đồng hương” hững hờ
Anh là thầy, em là trò
Cớ chi mắc cỡ, đường tơ khó tìm
Diệu kỳ tiếng gọi trái tim
Dẫn đường anh đến với em mỗi ngày ...
                         
Có ban đầu, cho hôm nay
Bốn mươi năm ấy là đây nghĩa tình
Cùng chung mái ấm gia đình
Cháu con sum họp chúng mình thêm vui.

3/2012




Nhờ ơn Người

Một vùng non nước ngút hương bay
Phật tổ ngự sen trên đỉnh mây
Gió hát ru hồn nơi cõi lạc
Chuông ngân gợi cảnh chốn bồng lai
Mờ mờ ảo ảo ai hề biết
Sắc sắc không không đâu có hay
Phật tử nhờ ơn người dạy bảo
Trầm luân bể khổ nghiệp đong đầy.

Chùa Bái Đình - 3/2012


  


Thăm Côn Sơn

Con đến Côn Sơn mới một lần
Đâu người đâu cảnh đã dừng chân
Đâu nơi Nguyễn Trãi gieo vần tứ
Đâu chốn Vua Lê để oán ân
Thương tiếc một đời cao nghĩa khí
Ngậm ngùi muôn thuở bậc danh nhân
Chung quy bao nỗi oan thù hận
Chỉ tại lòng tham lũ mọt thần.

Hải Dương - 3/2012




Gửi Trường Sa

Ai ra ngoài ấy đảo Trường Sa
Ta gửi tình yêu của tuổi già
Yêu đảo mắt ngời canh đất nước
Yêu người chiến sĩ biết xông pha

Ai ra ngoài ấy đất Trường Sa
Quyết chí bền gan giữ nước nhà
Canh biển yên lành cho tổ quốc
Tuổi già xin gửi tặng lời ca.

4/2012



Biển đảo Hoàng Sa

Hoàng sa hòn ngọc dưới trời đông
Đón mặt trời lên rải nắng hồng
Biển lặng thuyền khơi giăng lưới cá
Trời yên đảo nổi trải mây rồng
Việt Nam dấu ấn ghi lời thép
Tổ quốc mốc son tạc chữ đồng
Nhắn gửi đảo xa tình đất Việt
Rừng sâu biển rộng mãi chung lòng.

5/2012
  


Đọc thơ em

Người rằng rượu chảy thành thơ
Ta nhấp men rượu lại mơ tình đời
Thơ ai cuốn hút lòng người
Ta say “màu tím chân trời” vì em.

5/2012



Muộn

Có mùa xuân đến muộn
để hoa luôn đợi chờ

Có mùa hạ đến muộn
làm giọt nắng hững hờ

Có mùa thu đến muộn
hoa cúc đã nở đầy

Có mùa đông đến muộn
rét ngọt vẫn đắm say

Có tình yêu đến muộn
nơi màu tím chân trời
Vẫn dòng thơ say đắm
Rung động cả lòng người.

5/2012



Ngỡ
Trời sinh voi, trời sinh cỏ
                  (tục ngữ)

Cứ ngỡ ta vì người
thì cuộc đời hạnh phúc

Cứ ngỡ ta vì ta
thì mới là quyền lực

Cứ ngỡ trời sinh voi
thì ắt trời sinh cỏ

Chẳng ai cho tất cả
Chẳng thể giành riêng mình
Voi không lo gặm cỏ
voi chết giữa rừng xanh

Trời luôn ban phước lành
khi biết cho biết nhận
Muốn nhân cần có quả
Muốn quả phải có nhân.

5/2012




Thăm quê bạn

Thăm quê của bạn, đẹp danh phường
Cất bước ra về vẫn vấn vương
Đường phố rộn ràng bừng ánh điện
Tình người hòa thuận sáng yêu thương
Kết đoàn lấy trí nhằm thay lực
Hòa giải dùng nhu để hóa cương
Trí Đảng lòng dân thêm sức mạnh
Ba mươi năm ấy sáng ngời gương.

6/2012


  

Mừng anh
Quý tặng anh Trần Xuân Sinh

Đọc thơ anh viết đậm tình nhà
Làm lính, làm thầy – khúc tráng ca
Thất thập Xuân Sinh, em tặng thiếp
Bách niên Trần mạnh, “Vua” ban quà
Kiên trì vượng đức thành muôn sự
Vững chắc thịnh tâm đạt vạn hoa
Con cháu nối đời xây nghiệp tổ
Mừng anh thơ phú vút bay xa.

6/2012
ĐẶNG VĂN BÌNH





NHÀ XUẤT BẢN NGHỆ AN
39-Lê Hồng Phong – TP.Vinh – Nghệ An
Tel & Fax : (038) 3835866 – 3844748 – 3831506


KÝ ỨC THỜI GIAN

Thơ


Chịu trách nhiệm xuất bản: VŨ HẢI
Biên tập: .................
Bìa, trình bày: XUÂN SINH
Sửa bản in: TÁC GIẢ


Ảnh bìa: Sơn Tân quê tôi, ảnh tác giả.

In 300 cuốn, khổ sách 14,5 ´ 20,5 cm. In tại …….
Đăng ký KHXB số: ..........
Quyết định xuất bản số: ...................
In xong và nộp lưu chiểu tháng ... năm ....


No comments:

Post a Comment