THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CẦN MỘT ĐỘI NGỦ CÔNG CHỨC
NẮM VỮNG ĐẶC THÙ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
CÓ NĂNG LỰC, KỶ NĂNG
Tóm tắt
Đô thị có vị trí khá quan trọng đối với đất nước, đặc biệt là đối với sự phát triển. Đô thị được hình thành là kết quả tất yếu khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất trong mối quan hệ chặt chẽ với quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng trong nền kinh tế của mọi quốc gia. Đến lượt mình, đô thị tác động một cách mạnh mẽ và có sức hút lớn như một động lực đối với phát triển của một vùng hay của cả nước. Những người quản lý đô thị (QLĐT) kể cả bộ phận hoạch định các chính sách vĩ mô hay các viên chức hành chính ở trong bộ máy chính quyền các cấp của đô thị cần nắm vững những đặc thù của đô thị để từ đó có những chính sách và những hành động quản lý phù hợp và hữu hiệu.
Phải nắm vững đặc thù của đô thị để có những quyết định quản lý phù hợp.
Trong công tác quản lý nói chung, đặc biệt là quản lý hành chính nhà nước, nếu xem đối tượng quản lý như nhau, không quan tâm đến tính đặc thù của đối tượng, mà “xài” chung một văn bản quản lý cho mọi loại đối tượng tức là đã làm cái việc chọn phần thuận về cho nhà quản lý mà đẩy cái khó khăn cho đối tượng quản lý. Lâu nay chúng ta tổ chức quản lý đô thị không có gì khác với địa bàn nông thôn. Xuất phát từ quan niệm “cấp tương đương” trong các văn bản pháp luật cho nên thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức như tỉnh; quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức như huyện; phường, thị trấn tổ chức như xã. Vì thế trong địa bàn thành phố địa bàn hẹp có quá nhiều cấp quản lý, điều này đưa đến mệnh lệnh hành chính bị “cắt khúc”, gãy, chồng chéo, luôn luôn xuất hiện mâu thuẫn giữa ngànhvà cấp trên cùng một địa bàn, trong khi đó đô thị là một chính thể thống nhất, đòi hỏi phải quản lý tập trung thống nhất và xuyên suốt.
Hiện nay nếu không có mô hình chính quyền đô thị phù hợp và quy chế đặc thù thì việc “chữa cháy” vẫn xảy ra thường xuyên hết việc này đến việc khác vì không chữa chạy tận gốc. “Chữa triệu chứng chứ không chữa nguyên nhân” _ Thế thì nguyên nhân nằm ở đâu? Lâu nay đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý đã đề cập đến.
Thứ nhất :
Chúng ta quản lý đô thị bằng các quy định để quản lý nông thôn. Có ý kiến ví von “dùng chiếc áo của nông thôn mặc cho đô thị thì quá chật”. Sự “quá chật” này càng thấy rõ hơn khi đó là một đô thị cực lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh do đó cần tạo thông thoáng và hợp lý về mặt thể chế.
Thứ hai :
Do cách suy nghĩ bình quân chủ nghĩa nên thiết kế bộ máy quản lý đô thị, ngay cả một đô thị cực lớn cũng không có gì khác biệt so với những nơi khác trong cả nước. Khi đối tượng quản lý khác nhau mà dùng công cụ quản lý như nhau thì trái với khoa học tổ chức, quản lý vì vậy cần tổ chức một bộ máy hợp lý để quản lý đô thị cực lớn hoạt động có hiệu quả hiệu lực.
Thứ ba:
Đội ngũ cán bộ công chức để quản lý đô thị nói chung và quản lý đô thị cực lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được chuẩn bị và trang bị những kiến thức không có gì khác hơn so với đội ngũ cán bộ công chức ở các địa phương khác (Chúng tôi nhấn mạnh sự khác về mặt kiến thức chứ không đặt vấn đề hơn kém). Thậm chí những người này còn mang theo phong cách sinh hoạt của “tiểu nông” vào làm pha loãng đi “chất công nghiệp”, chất “chính quy” của thành phố của “thị dân” đây được xem là đội ngũ công chức cán bộ không có kiến thức về quản lý đô thị.
Trong quá trình quản lý đô thị, các cấp chính quyền ở đô thị phải luôn luôn đương đầu giải quyết những khó khăn như: tình trạng xây dựng hỗn loạn không tuân thủ quy hoạch, vấn đề cấp thoát nước, thiếu cây xanh, tình trạng thiếu nhà ở (nhà ổ chuột), nạn ùn tắc giao thông, đường sá xuống cấp, mạng lưới điện quá tải, ô nhiễm môi trường, thiếu công ăn việc làm, thất nghiệp nghèo đói, tệ nạn xã hội, gia tăng dân số, trật tự an toàn giao thông… Các khó khăn này luôn tác động lẫn nhau, đan xen lẫn nhau làm cho quá trình quản lý đô thị đã phức tạp càng thêm phức tạp hơn.
Nội dung quản lý đô thị nổi bật sự khác biệt với quản lý nông thôn là công tác quản lý xây dựng và phát triển đô thị, nó bao gồm các nội dung chính như sau :
- Quản lý quy hoạch (đất đai, địa điểm và không gian đô thị)
- Quản lý việc đầu tư xây dựng đúng trình tự theo quy hoạch.
- Quản lý kiến trúc, cảnh quan đô thị.
- Quản lý việc khai thác và sử dụng các công trình trong đô thị
- Quản lý vệ sinh môi trường đô thị.
Ngoài ra những nội dung quản lý khác trong các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa xã hội đời sống, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, giao thông, thi hành pháp luật… yêu cầu phải nhanh nhạy, linh hoạt, rất khoa học để phù hợp với đặc thù của đô thị. Đòi hỏi có tính nguyên tắc trong quản lý đô thị là phải bảo đảm tính thống nhất, xuyên suốt không được cắt khúc và quản lý trực tiếp.
Phải xem đô thị là một chỉnh thể, cấu trúc chặt chẽ. Không ở đâu mà yêu cầu bộ máy tinh gọn ít tầng nấc như đô thị.
Trên thế giới nói chung, thủ đô và các đô thị lớn có vị trí quan trọng đều có quy chế quản lý đặc thù. Ở nước ta thậm chí còn chưa có quy chế quản lý đô thị khác với nông thôn chứ chưa nói gì đến quy chế đặc thù cho thành phố lớn. Phải thấy rằng đây là một thiệt thòi cho việc phát triển của thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Và tất nhiên làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cả nước.
Thiết nghĩ, đã đến lúc cần suy nghĩ một cách căn cơ có hệ thống để làm sao cho đô thị có :
Tính bền vững : Nên làm gì để thành phố có được điều kiện sống tốt hơn?
Tính lành mạnh : Nên làm gì để thành phố lành mạnh về tài chính hơn?
Tính cạnh tranh : Làm thế nào để thành phố có khả năng cạnh tranh nhiều hơn trong kinh tế
toàn cầu?
Quản lý tốt : Làm thế nào để khả năng quản lý của thành phố có thể được phát huy?
Với vai trò của đô thị đối với sự phát triển chung của cả nước, cần phải suy nghĩ, hành động và quyết sách trên tinh thần : Phát triển đô thị chính là tạo sự phát triển cho cả nước.
Nhiều công trình khảo sát đánh giá nhu cầu đào tạo công chức được thực hiện cho thấy, khi tập trung vào khảo sát những vấn đề liên quan đến năng lực, qua các nội dung: (1) Kiến thức và kỹ năng quản lý chung; (2) Kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước tại địa phương và đô thị; và (3) Kiến thức và kỹ năng lãnh đạo tại địa phương và đô thị. Tóm lại các kỹ năng lãnh đạo và quản lý; kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định; kỹ năng tổng hợp và viết báo cáo; kỹ năng giao tiếp và thuyết trình hiệu quả; và kỹ năng quản lý công sở nhìn chung hụt hẫng.
Những hụt hẫng cơ bản về kiến thức và kỹ năng của công chức là lãnh đạo và quản lý các vụ, cục, sở ngành, quận huyện và phương, xã bao gồm:
Đối với lãnh đạo/quản lý sở ngành, quận huyện
Quản lý chung: - Quản lý nguồn nhân lực/quản lý con người
- Quản lý chiến lược
- Hệ thống các chỉ số thực thi công tác
- Quản lý xây dựng cơ sở hạ tầng tại ngành/địa bàn
- Quan hệ kinh tế quốc tế
Quản lý nhà nước: - Nghiên cứu và phân tích chính sách công
- Quản lý và phát triển đô thị
- Quản lý theo kết quả
- Quản lý phát triển kinh tế - xã hội tại ngành/địa bàn
Lãnh đạo: - Xây dựng chiến lược phát triển địa phương
- Kỹ năng lãnh đạo và quản lý
Đối với chuyên viên và cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn
Quản lý chung: - Quản lý kế hoạch công tác
- Quản lý nguồn nhân lực/quản lý con người
- Quản lý đầu tư xây dựng
Quản lý nhà nước: - Kỹ năng xây dựng và đề xuất các đề án có sự tham gia
- Kỹ năng hợp nhất chương trình/kế hoạch công tác của cơ quan/đơn vị với chương trình/kế hoạch của quận, huyện/ Tỉnh,Thành .
- Các kỹ thuật điều tra thu thập dữ liệu cơ bản về địa bàn
Lãnh đạo: - Kinh nghiệm về lãnh đạo và quản lý tại nước ngoài
- Kỹ năng lãnh đạo và quản lý cơ bản
- Kỹ năng/kỹ thuật khác
Cần phải chuyển hướng từ đào tạo chức nghiệp sang đào tạo năng lực cho công chức
Tổng kết mười năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đọan (2001-2010) các chuyên gia thống nhất nhận định: “Yếu kém lớn nhất là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế mới. Mặc dù công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường, số lượng cán bộ, công chức qua các lớp, khóa đào tạo, bồi dưỡng khá lớn, nhưng nhìn chung chất lượng, nhất là kiến thức quản lý nhà nước mới với kỹ năng nghiệp vụ hành chính thực sự mới chỉ đạt được ở tỷ lệ thấp. Bằng cấp, chứng chỉ tăng, nhưng chất lượng về chuyên môn của cán bộ, công chức có bằng cấp, chứng chỉ lại đang là vấn đề đáng lo ngại.
Phương thức đào tạo hiện nay chủ yếu theo chức nghiệp, nhằm vào việc tiêu chuẩn hóa chức danh cán bộ, công chức, chứ chưa chú trọng đầy đủ tới những kiến thức và kỹ năng để xây dựng cho người công chức năng lực thực hiện tốt hơn công việc và nhiệm vụ được giao. Hiện trạng công tác đào tạo đang gây ra tình trạng hẫng hụt về năng lực thực thi thích ứng với yêu cầu phát triển của đất nước đối với người công chức; so với yêu cầu nhiệm vụ nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển của đất nước trong tương lai thì sự hẫng hụt này càng trở thành thách thức lớn đối với chính quyền các cấp”.
Thiết nghĩ để khắc phục thực trạng trên cần hướng đến việc đào tạo năng lực cho công chức.
Đích đến của lộ trình đào tạo năng lực cho đội ngũ công chức
Đích đến của lộ trình đào tạo chính là những năng lực cần thiết xây dựng cho công chức chính quyền, giúp họ có được khả năng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần vào việc đạt được các mục tiêu chiến lược do nhà nước đề ra trong bối cảnh hội nhập và phát triển của cả quốc gia hay từng địa phương.
Khái niệm năng lực:
Khái niệm năng lực được sử dụng trong tâm lý học, giáo dục học và đào tạo. Khái niệm này (với nguồn gốc từ tiếng La tinh cổ là “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ) thường được hiểu như là các đặc tính tâm lý cá nhân phức tạp bao gồm cả các kỹ năng được xây dựng trên cơ sở kiến thức gắn với động cơ, làm cho người đó có thể hành động một cách hiệu quả và thích ứng trong những hoàn cảnh nhất định.
Năng lực là tập hợp của nhiều yếu tố như kiến thức, các kỹ năng, khả năng, sự sẵn sàng để hành động và trách nhiệm. Khái niệm này gắn với khả năng hành động được hình thành trên cơ sở hiểu biết và kiến thức, vì vậy hai yếu tố này là không tách rời nhau. Khả năng hành động là một năng lực, vì vậy khi nói tới phát triển năng lực cũng có nghĩa là phát triển năng lực hành động. Hơn nữa, năng lực của một cơ quan/tổ chức còn gắn với các yếu tố mang tính hệ thống như chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, và nguồn lực thích hợp để tổ chức đó vận hành một cách trôi chảy và hiệu quả (1)
Tóm lại năng lực được hiểu là khả năng:
- Làm chủ và hoàn thành nhiệm vụ tại các tình huống thực;
- Làm chủ và xử lý được các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ;
- Vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ;
- Xác định và tiên liệu được những xu hướng và thay đổi trong tương lai khi thực hiện các nhiệm vụ để đưa ra được các giải pháp hiệu quả, tránh gây tổn thất.
Có thể định nghĩa năng lực là: "năng lực là là sự liên kết mang tính tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, mà nó ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, và có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển" (1).
Theo nhiều nghiên cứu (2) cho thấy năng lực cần đối với cán bộ công chức thành phố trong bối cảch yêu cầu của công cuộc tái thiết, phát triển đất nước và hội nhập đó là:
- Hiểu về những nguyên tắc cơ bản của hành chính nhà nước, được tiếp cận một cách hệ thống đến những nguyên tắc về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước trong mối quan hệ với chính trị, khoa học tổ chức và khoa học hành chính;
- Có khả năng vận dụng những kiến thức và nguyên tắc vào thực tiễn công tác;
- Có khả năng tư duy độc lập trong thực thi nhiệm vụ một cách hiệu quả, đúng theo quy định và sáng tạo để phù hợp với thực tiễn;
- Có khả năng nhận diện, phát hiện vấn đề; phân tích, đánh giá, tổng hợp, xử lý thông tin nhanh nhạy, biết sử dụng các công cụ thích hợp nhằm đưa ra giải pháp thích hợp, sáng tạo trong quá trình thực thi công vụ, vừa bảo đảm đúng pháp luật, vừa bảo đảm tính phù hợp với thực tiễn.
- Với những công chức tham mưu, là chuyên gia, hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, hoạch định chính sách: cần có năng lực dự báo tương lai, có tầm nhìn rộng, biết sử dụng những công cụ trong hoạch định và xây dựng chiến lược, xây dựng chính sách và kế hoạch thực hiện.
Với những công chức lãnh đạo và quản lý, cần có năng lực về tầm nhìn, biết xây dựng chiến lược (cho ngành, lĩnh vực, hay tổ chức), thiết lập các mục tiêu mang tính khả thi cao, phù hợp với các nguồn lực và khả năng của thực tiễn.
- Công chức cần có khả năng giao tiếp, hợp tác và làm việc với con người một cách hiệu quả: kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, thấu hiểu và hành động đúng đắn.
- Công chức cần có tinh thần trách nhiệm cao, tính kỷ luật, phẩm chất đạo đức và tâm trong sáng trong thực thi công vụ.
Năng lực bổ trợ giúp người công chức làm chủ, tư tin để hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất trong bối cảnh thực tiễn.
Ngoài ra, để thực hiện được tốt nhiệm vụ, người công chức cần có những kỹ năng mang tính bổ trợ cho cá nhân, tuỳ theo loại công chức:
- Kỹ năng nhận diện và phân tích vấn đề trong lập kế hoạch hành động;
- Kỹ năng lập kế hoạch;
- Kỹ năng phân tích vấn đề, thiết lập mục tiêu trong hoạt động thực thi nhiệm vụ;
- Kỹ năng làm việc hiệu quả: lựa chọn ưu tiên, sắp xếp thời gian hợp lý, lập và theo dõi lịch công tác, lưu trữ hồ sơ, định lượng kết quả…
- Kỹ năng sử dụng các công cụ kỹ thuật trong quản lý hiện đại: phân tích, thiết lập mục tiêu, đánh giá (SWOT, cây mục tiêu, biểu đồ GANTT, sơ đồ xương cá…);
- Kỹ năng thuyết trình, thuyết phục;
- Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ;
- Kỹ năng sử dụng máy vi tính trong công việc (văn bản, lưu trữ, thuyết trình), sử dụng mạng máy tính và internet trong công việc;
- Kỹ năng làm việc nhóm;
- Kỹ năng giao tiếp;
- Kỹ năng tổ chức cuộc họp hiệu quả;
- Kỹ năng xây dựng báo cáo;
- Kỹ năng quản lý và thực hiện dự án
- v.v.
Bên cạnh đấy, đòi hỏi công chức phải có các năng lực quản lý hiện đại cơ bản bao gồm:
- Năng lực tư duy
- Năng lực hành động
- Năng lực quan hệ, giao tiếp, thuyết phục, lãnh đạo, làm việc với người khác
- Năng lực học tập, tiếp thu, đổi mới, sáng tạo
Những năng lực và kỷ năng được xây dựng trên nền tảng phẩm chất, thái độ và hành vi tương thích nhằm giúp người công chức có khả năng hoàn thành nhiệm vụ tương ứng với vị trí chức danh một cách chủ động và tích cực trong bối cảnh khó khăn, thách thức, yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ trong thực tiễn quản lý đô thị tầm cỡ như thành phố Hồ Chí Minh.
Diệp Văn Sơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1-Bộ tài liệu Đào tạo kỷ năng Dự án “ HỖ TRỢ KỶ THUẬT CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” GIAI ĐOẠN 2008-2011
2. Khảo sát nhu cầu đào tạo của 4 nhóm công chức Tp.HCM , Công ty Cổ phần Tư vấn và Phát triển Quản lý (MCaD)-Tài liệu Dự án “ HỖ TRỢ KỶ THUẬT CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” GIAI ĐOẠN 2008-2011
*
[1] http://www.phapluatvn.vn/tuphap/201108/Luat-to-chuc-HdNd-va-uBNd-phan-dinh-trach-nhiem-con-mu-mo-2057078/
No comments:
Post a Comment