Trước tình hình như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, cùng lúc phải lo đối phó với cả thù trong và giặc ngoài; hệ thống chính quyền vừa mới thành lập chưa kịp củng cố, nền kinh tế còn đang trong thời kỳ hồi phục, LLVT chưa mạnh, sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế còn hạn chế,... Đảng ta chủ trương: Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc, tập hợp lực lượng chống đế quốc xâm lược. Chủ trương sáng suốt của Đảng được quân và dân cả nước thực hiện rất thành công. Quân và dân ta vừa chặn đánh làm chậm tốc độ tiến công của quân Pháp ở phía Nam, vừa đẩy mạnh sản xuất, củng cố hệ thống chính quyền nhân dân, phát triển LLVT, gắng sức chuẩn bị kháng chiến. Trong tổ chức Nhà nước và Quốc hội, ta đã giành một số ghế cho đại diện của Việt Quốc và Việt Cách, vua Bảo Đại vừa thoái vị được mời làm cố vấn Chính phủ. Cùng với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Đảng ta còn vận dụng sáng tạo sách lược “hòa để tiến”, kết hợp chặt chẽ “đánh - đàm” nhằm loại bớt kẻ thù, tập trung sức mạnh đánh kẻ thù chính. Chính phủ ta đã đàm phán nhân nhượng với Tưởng, ký Hòa ước với Pháp. Bằng kế sách đấu tranh ngoại giao mềm dẻo và khôn khéo, với lập trường kiên định, mục tiêu và nguyên tắc trước sau như một: Phải giữ vững hòa bình, độc lập dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc, cũng như thành quả cách mạng đã giành được. Ta đã loại bớt được 20 vạn quân Tưởng, phá tan ý đồ thỏa hiệp Hoa - Pháp của kẻ thù. Quân Tưởng rút đi, lực lượng Việt Quốc và Việt Cách cũng bị suy yếu. Bên cạnh đó ta còn hạn chế được tốc độ tiến công, sức mạnh đánh phá của quân Pháp; kéo dài thời gian chuẩn bị kháng chiến, phát triển lực lượng, tạo sức mạnh đánh với hơn 65.000 quân địch. Thắng lợi giành được đã chứng minh rõ vai trò lãnh đạo, cũng như chủ trương và sách lược đánh giặc đúng đắn, mưu trí và sáng tạo của Đảng ta. Thành quả đó còn nhân lên niềm tin, củng cố vững chắc ý chí và quyết tâm kháng chiến cho toàn dân, tạo sức mạnh để ta từng bước vượt qua khó khăn đánh thắng kẻ thù. Nhận thấy ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Hiệp định sơ bộ ngày 6-3 và Tạm ước 14-9-1946 vừa được ký xong đã bị phía Pháp bội ước. Với ý đồ xâm lược nước ta lần thứ hai, kẻ địch thực hiện âm mưu chia để trị, hòng phá vỡ sự gắn kết bền chặt trong quốc gia, mối liên kết chặt chẽ giữa các vùng miền, khối đoàn kết vững chắc giữa các dân tộc. Mục đích của chúng làm suy yếu tiềm lực và sức mạnh, sự chi viện và phối hợp tác chiến giữa các chiến trường của ta.

Ngay sau khi phát lệnh toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), quân và dân Hà Nội chiến đấu,
giành giật với địch từng góc nhà, đường phố. Ảnh tư liệu
Pháp lập ra chính phủ tự trị nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi quốc gia Việt Nam, đưa quân đánh ra Nam Trung Bộ, đổ bộ đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và Đà Nẵng, gây ra nhiều vụ xung đột ở Hà Nội cũng như các địa phương khác. Qua đó cho thấy quân Pháp đã đẩy chiến tranh lên quy mô ngày càng lớn. Nhận thấy chiến tranh khó có thể tránh khỏi, tuy vậy, với lòng mong muốn hòa bình, quân và dân ta vừa gắng sức chuẩn bị kháng chiến, vừa kiên trì đấu tranh buộc thực dân Pháp phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư tố cáo hành động xâm lược của Pháp, kêu gọi Liên hợp quốc, Chính phủ và nhân dân các nước ủng hộ, giúp đỡ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Người đã nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội và Thủ tướng Pháp, cử phái viên gặp đại diện của nước Pháp ở Đông Dương, tìm cách cứu vãn hòa bình, tránh cuộc chiến tranh đẫm máu, gây tổn hại cho cả hai quốc gia và hai dân tộc.
Thiếu tướng, PGS, TS BÙI THANH SƠN
No comments:
Post a Comment